THIÊN TÀI XUẤT HIỆN KỲ BA
    Đầu thế kỷ 21 trên mặt hành tinh nầy, sẽ lần lượt xuất hiện những bậc thiên tài, là những đấng Thánh sống đang cầm quyền trị thế, tức những anh hào tuấn kiệt trong hàng 92 ức (9.200.000) nguyên nhân mà các đạo giáo thường xưng danh tôn tặng là chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Các Đấng ấy là những bậc Phi Phàm cũng như con người chúng ta hiện tại, có khác hơn chúng ta là “hành vi của các Đấng ấy khác hẳn với thế tình, mắt đời ít hay thường thấy. Tâm thiện của các Ngài dìu dắt, dạy khuyên, đặng biết người biết mình, xem đời định thế; lòng lẫn truất thương sanh đầy dẫy, hiểu đặng cái khổ của mình nên không hay ngồi xem cái khổ của người, đã chán chịu đau đớn của mình nên không nở làm đau kẻ khác; nếm đủ mùi sầu thảm, nên hằng mong gở thảm giải sầu; ở cùng đời đặng chia khổ với đời, lẫn theo thế mới chung than cùng thế; lịch lãm những màu thế sự, vài vã tháo cho đáng phận con người, cân oan giai nhắc đúng mực nẻ bao mươi, thì mới biết thương đời lo cứu khổ”. Rồi làm sao để biết các đấng ấy ? Năm 1984 Đức phật Chuẩn Đề dạy “không phải tự xưng hay vạn linh tôn mà thiêng liêng cho xuất hiện do sở hành, hữu hình nhìn nhận”.
    ▪ Đàn cơ tại Giáo Tông Đường, 10-4-Giáp Thìn (dl 21-5-1964).
    Phò loan : Hiến Đạo - Khai Đạo. Lúc 21 giờ 50.
    Đức Hộ Pháp cho biết: “Bần đạo rất hài lòng đặng thấy con cái của Đức Chí Tôn ngày nay được biết nguồn gốc của sự thương yêu, nên chi toàn cả chúng sanh đều hướng về sự hòa bình cả thế giới, nhưng chẳng nước nào tầm ra manh mối. Vậy  chỉ sau nầy có Đạo mới phăng được mối để dìu dắt toàn cả chúng sanh làm chủ các nước trong hoàn cầu  y theo lời của Chí Tôn đã tiền định. Bần đạo để lời cám ơn cả Chức sắc, Chức việc có lòng hội hiệp cùng nhau lo cuộc đại nghiệp của Chí Tôn. Chẳng phải cuộc lễ lớn mà mừng, nhưng mừng đặng một khối hòa ái cộng yêu với nhau. Đó là tượng trưng cho cả tinh thần của Đạo.
    Ngày nay nước Việt Nam có nhiều Thánh, Hiền xuất thế, nhưng còn ẩn danh trong các hang thẳm để lo lập nghiệp sau nầy.
    Hội Long Hoa sẽ đến ở tại Nam phần Việt Nam. Vậy ngày giờ đã gần đến, nên Bần đạo để lời khuyên cả Chức sắc  và toàn Đạo ráng thế nào thống nhứt Đạo cho được mới có đủ sức mạnh để làm gương cho vạn quốc. Chỉ có chúng ta sau nầy phải lãnh sứ mạng đó.
    Ngày nào Hội Thánh Nam, Nữ còn tưởng nhớ đến Bần Đạo thì chỉ xin một điều là: hiệp sức chung lo gìn giữ tất cả các cơ quan chính trị Đạo để cùng nhau chuyển thế.
    Từ đây tới sau, cho tới ngày Đại Hội Long Hoa hoặc nên hư đặng thất điều gì??.     Qua lập Long Hoa Đại Hội hay chăng, Qua phó thác nơi tay mấy em đó vậy”. Thăng !
    ▪ Lời tiên tri của Đức Hộ pháp đã hiển hiện, đầu năm 2012, một điểm linh quang tỏa sáng vùng cực Đông Việt Nam, cái khí tiết hùng dũng và cương quyết cầm chánh pháp ấy đã phát xạ hào quang chơn thật từ nơi Ngài Nguyễn Phú Trọng Tổng Bí Thư nước CHXHVN, làm gương sáng cho đoàn em hậu tấn biết trung với nước, hiếu với dân, nghĩa với bạn đồng sanh trên toàn thế giới. Hành tàng ấy xứng là một quan Thánh Vân Trường buổi nọ, đang cầm quyền trị thế, chúng ta hãy trân trọng và thương yêu thật lòng một tinh thần ái quốc, ái dân qua những bài phát biểu trung can nghĩa khí của một đấng minh quân Thánh sống nhân hậu xuất hiện thời nay.
Chúng ta nên lưu tâm tìm hiểu cái nguyên căn và sở hành xuất hiện của một vị Minh quân Thánh sống TBT, ông cũng mang xác phàm như ta, như hàng triệu cái xác khác. Nhưng do đâu, ông được nhơn sanh tôn tặng lên một phẩm vị cao trọng dường ấy?
1- Tiểu sử Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư BCH T.Ư Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI
Ðồng chí Nguyễn Phú Trọng sinh ngày 14-4-1944, xuất thân trong gia đình nông dân, dân tộc Kinh. Quê quán: xã Ðông Hội, huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: số 5, phố Thiền Quang, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Nghề nghiệp khi được tuyển dụng: học sinh.
Ngày được tuyển dụng làm cán bộ, công chức, viên chức: 5-12-1967.
Ngày vào Ðảng: 19-12-1967; ngày chính thức: 19-12-1968.
Trình độ được đào tạo: giáo dục phổ thông: tốt nghiệp hệ 10 năm.
Chuyên môn nghiệp vụ: Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Ðại học Tổng hợp HN (hệ 4 năm).
Học hàm, học vị: Giáo sư, Tiến sĩ Chính trị học (chuyên ngành Xây dựng Ðảng).
Lý luận chính trị: Cao cấp
Ngoại ngữ: Tiếng Nga
Khen thưởng: Huy chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất, Huy chương Vì sự nghiệp VH, Huy chương Vì sự nghiệp báo chí, Huy chương Vì sự nghiệp thế hệ trẻ…
Ủy viên chính thức Trung ương Ðảng các khóa VII, VIII, IX, X.
Ủy viên Bộ chính Trị các khóa VIII, IX, X; tham gia Thường trực Bộ Chính trị (8-1999 – 4-2001).
Ðại biểu Quốc hội các khóa XI, XII.
Tóm tắt quá trình công tác
1957-1963: Học Trường phổ thông cấp II, cấp III Nguyễn Gia Thiều, Gia Lâm, Hà Nội.
1963-1967: Sinh viên Khoa Ngữ văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội.
12-1967 – 7-1968: Cán bộ Phòng Tư liệu, Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí cộng sản).
7-1968 – 8-1973: Cán bộ biên tập Ban Xây dựng Ðảng, Tạp chí Cộng sản. Ði thực tập ở huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (1971); Bí thư Chi đoàn cơ quan Tạp chí Cộng sản (1969-1973).
8-1973 – 4-1976: Nghiên cứu sinh Khoa Kinh tế – Chính trị, Trường Ðảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia HCM), Chi ủy viên.
5-1976 – 8-1980: Cán bộ biên tập Ban Xây dựng Ðảng, Tạp chí CS, Phó Bí thư chi bộ.
9-1980 – 8-1981: Học Nga văn tại Trường Ðảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.
9-1981 – 7-1983: Thực tập sinh và bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ) Khoa Xây dựng Ðảng thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Liên Xô.
8-1983 – 2-1989: Phó Trưởng ban Xây dựng Ðảng (10-1983), Trưởng Ban Xây dựng Ðảng, Tạp chí Cộng sản (9-1987); Phó Bí thư Ðảng ủy
(7-1985 – 12-1988), Bí thư Ðảng ủy cơ quan Tạp chí Cộng sản (12-1988 -12-1991).
3-1989 – 4-1990: Ủy viên Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản.
5-1990 – 7-1991: Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản.
8-1991 – 8-1996: Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản.
1-1994 đến nay: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Việt nam các khóa VII, VIII, IX, X.
8-1996 – 2-1998: Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, kiêm Trưởng Ban Cán sự Ðại học và trực tiếp phụ trách Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội.
12-1997 đến nay: Ủy viên Bộ chính Trị Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam các khóa VIII, IX, X.
2-1998 – 1-2000: Phụ trách công tác Tư tưởng-Văn hóa và Khoa giáo của Ðảng.
8-1999 – 4-2001: Tham gia Thường trực Bộ Chính trị.
3-1998 – 8-2006: Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (3-1998 – 11-2001); Chủ tịch Hội đồng Lý luận T.Ư, phụ trách công tác lý luận của Ðảng (11-2001 – 8-2006).
1-2000 – 6-2006: Bí thư Thành ủy Hà Nội các khóa XII, XIII, XIV.
5-2002 đến nay: Ðại biểu Quốc hội các khóa XI, XII.
6-2006 đến nay: Bí thư Ðảng đoàn Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh.
Tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng (tháng 1- 2011), đồng chí đã được Ban Chấp hành Trung ương Ðảng bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XI.
▪ Qua bài phát biểu bế mạc hội nghị TW thứ 7 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và những tư liệu có từ trước…đã thể hiện một tinh thần Chí Thánh, trung can nghĩa khí, phát tiết lên một tư tưởng yêu nước, thương dân, trong giai đoạn vật chất đủ sức mạnh có thể khống chế, vi chủ tinh thần đạo đức nhơn nghĩa của dân tộc Việt xa dần phong hóa Tổ phụ nhà Nam 4000 năm gầy dựng. Quả thật thế đời, khi làm chi phi thường thì một mình độc chiếc cô quạnh không ai nâng đỡ là vậy ! Ngài là một vị  Thánh hiền vì nước vì dân, dám đem thân mình làm con tế vật để giúp tinh thần nhơn loại trụ tánh lại mình, đặng làm chủ chính mình; có làm chủ mình được mới làm chủ đất nước của mình. Cái của báu của con người là tự do, mất tự do là thoái bộ xuống thú rồi đó vậy; thế nên chúng ta theo người hay theo thú? Ngài TBT muốn nhắc nhở chúng ta đừng để cho một thế lực vật chất nào lợi dụng mình, chia rẻ mình, phạm quyền mình, vì quyền mình là quyền của cả một dân tộc Việt Nam anh hùng. Đáng được trân trọng một tinh thần chí Thánh, là dân tộc Việt Nam chúng ta hãy ghi tâm.
“nên trò đạo đức dễ gì đâu,
Vui chẳng dám vui sầu chẳng dám sầu.
Cái khổ của đời mình ước vọng,
Cái chê của chúng lại nài cầu”.
Chúng tôi hiểu và xin phép được đồng hành, chia xẻ nổi buồn lo, hy sinh, tận tụy vì nước vì dân của Ngài! Chúng tôi cũng nhọc tâm, có cùng một hoàn cảnh như Ngài vậy.
Chúc Ngài sức khỏe tốt nhứt, để lái con thuyền Quốc Đạo Việt Nam về bến quang vinh.

 (Trích câu thứ 2 trong bài phát biểu )
2/- “Hội nghị nhất trí cho rằng, tiếp sau Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, việc lần này Trung ương bàn và ban hành Nghị quyết về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận là rất cần thiết trong tình hình hiện nay. Bởi vì chỉ có làm tốt công tác dân vận, tăng cường mối liên hệ máu thịt giữa nhân dân với Đảng thì Đảng mới có sức mạnh. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, có rất nhiều vấn đề mới đặt ra tác động đến tư tưởng, tình cảm, đời sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Những hiện tượng phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, cùng với tệ quan liêu, tham nhũng, xa dân, xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng là thách thức đối với mối liên hệ giữa dân với Đảng. Chỉ có đổi mới và làm tốt công tác dân vận, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với dân, cũng như khối đại đoàn kết toàn dân thì mới phát huy được sức mạnh to lớn của toàn dân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để thực hiện được yêu cầu trên, phải quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về dân vận, về đại đoàn kết dân tộc. Đặc biệt là phải tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; hết lòng, hết sức chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, chú trọng đến lợi ích trực tiếp của người dân; luôn trọng dân, gần dân, hiểu dân, tin dân; những gì có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Thường xuyên chỉnh đốn, xây dựng Đảng, Nhà nước, chính quyền trong sạch, vững mạnh; mọi quan điểm, chủ trương của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước phải vì dân, xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu, tận tụy với công việc, nói đi đôi với làm để nhân dân tin tưởng, noi theo.
Tiếp tục nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò của công tác dân vận. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước đến với nhân dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về các hoạt động thông tin, truyền thông, định hướng dư luận xã hội; kịp thời ngăn chặn, đấu tranh với các thông tin xấu, độc hại, nhất là qua mạng Internet. Kiên quyết, kiên trì thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh; tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở. Tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc trong nhân dân, nhất là về đời sống, công ăn việc làm, giải tỏa, đền bù đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân, cải cách thủ tục hành chính; khắc phục tình trạng tiêu cực, phiền hà; ách tắc và tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội, bảo đảm an sinh xã hội… Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, các hội quần chúng. Kiện toàn, nâng cao năng lực dân vận của các cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận trong toàn hệ thống chính trị, đặc biệt là trong các cơ quan hành chính nhà nước, các cán bộ thường xuyên có quan hệ, tiếp xúc trực tiếp với dân. Đổi mới mạnh tác phong công tác, thật sự gần dân, trọng dân, học dân. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở”.
2-Tiểu sử, lý lịch Trương Tấn Sang: Chủ tịch nước Việt Nam
Họ và tên khai sinh: TRƯƠNG TẤN SANG
Họ và tên thường gọi: Trương Tấn Sang
Sinh ngày 21 tháng 01 năm 1949.
Quê quán: xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Nơi ở hiện nay: Số 51 Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội.
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ chuyên môn: Cử nhân luật
Nghề nghiệp, chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư T.Ư Đảng.
    Ngày vào Đảng cộng sản Việt Nam: 20-12-1969, Ngày chính thức: 20-12-1970
Trình độ học vấn: Cử nhân
Lý luận chính trị: Cao cấp
Ngoại ngữ: Tiếng Anh (B)
Tình trạng sức khỏe: Bình thường
Khen thưởng: Huân chương Kháng chiến hạng Ba
Kỷ luật: Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định khiển trách (2003)
Là đại biểu Quốc hội khóa: IX, X, XI, XIII.
TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC
- 1966- 1968: Tổ trưởng thanh niên, xây dựng cơ sở mật trong sinh viên, học sinh (PK2)
    - 1969- 1971: Đảng ủy viên, Bí thư Đoàn Thanh niên, phụ trách Đội võ trang mật thị trấn Đức Hòa (Long An)
- 1971- 1973: Bị địch bắt, bị giam giữ ở nhà tù Biên Hòa, Phú Quốc. Đến năm 1973, được trao trả theo Hiệp định Pa-ri
- 1973- 4/1975: Cán bộ tổ chức Ban T.72 thuộc Ủy ban thống nhất Trung ương
    - 4/1975- 10/1978: Cán bộ Công đoàn Gia Định, Phó ban Xây dựng kinh tế mới thành phố, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh các nông trường và Khu kinh tế mới Thành phố Hồ Chí Minh
- 1979- 8/1983: Huyện ủy viên, Giám đốc Nông trường Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành ủy viên dự khuyết
- 1983- 1986: Giám đốc Sở Lâm nghiệp, Thành ủy viên phụ trách lực lượng thanh niên xung phong và Ban Kinh tế mới Thành phố Hồ Chí Minh
- 1986- 1988: Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Bí thư Huyện ủy Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 1988- 1990: Đi học Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc Trung ương (Hà Nội)
    - 1990- 1991: Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Giám đốc Sở Nông nghiệp.
- 1991- 1992: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
- 1992- 1996: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
- 1996- 01/2000: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
- 01/2000- 2006: Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương
- 2006 – 7/2011: Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư
- 7/2011 đến nay: Tại phiên làm việc ngày 25/7, với 487 số phiếu tán thành, chiếm 97,4%, Quốc hội đã bầu ông Trương Tấn Sang giữ chức Chủ tịch nước.
▪ Bài phát biểu của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại lễ đón nhận bằng công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã biểu hiện, đại diện cho một tinh thần đại nghĩa của dân tộc Việt Nam 4000 năm mãi trường tồn mà Bác Hồ kính yêu thường nhắc nhở: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” để đất nước Việt Nam tươi đẹp, dân tộc Việt Nam nhân nghĩa, văn hiến của chúng ta mãi mãi trường tồn, vẻ vang sánh vai cùng bè bạn năm châu. Ngài Chủ tịch Trương Tấn Sang đã xuất pháp thân của một vị Thánh thiện, gần gũi bảo hộ nhân dân, chăm lo bảo tồn dãy giang sơn gấm vóc ngàn đời trung liệt, tạo điều kiện thuận lợi ban phép lành cho bá tánh được  lạc nghiệp âu ca.
“Thưa các vị đại biểu khách quý,
Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí,
Hôm nay, tôi rất vui mừng thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước dự Lễ tôn vinh, đón Bằng do tổ chức UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Khai mạc Lễ hội đền Hùng năm Quý Tỵ 2013, tôi thân ái gửi đến các vị đại biểu, khách quý cùng toàn thể đồng bào, đồng chí lời chúc sức khỏe, hạnh phúc! 
Thưa các vị đại biểu khách quý,
Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí,
“Con người có tổ, có tông, như cây có cội, như sông có nguồn”. Từ bao đời nay, trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam, các Vua Hùng là Quốc tổ có công dựng nên nhà nước đầu tiên của đất nước Việt Nam, là tổ tiên chung của dân tộc Việt Nam. Mọi người Việt Nam đều tự hào mang trong mình dòng máu “Con Lạc - cháu Hồng”. Tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng trở thành bản sắc văn hóa, đạo lý truyền thống của người Việt Nam ta, thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ cháu con với công đức của tổ tiên trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Dù làm gì, ở đâu, mỗi người con đất Việt đều hướng về cội nguồn, hướng về tổ tiên với tấm lòng thành kính, tri ân. Thờ cúng các Vua Hùng không chỉ là hoạt động tâm linh cầu mong Quốc tổ phù hộ cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, đất nước yên vui, thịnh vượng, mà còn có ý nghĩa sâu xa nhắc nhở, kết nối, củng cố tình đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau của cộng đồng dân tộc Việt Nam, những người cùng chung một cội nguồn. Vì vậy, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử hàng nghìn năm, tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng vẫn được bền bỉ trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần hun đúc tâm hồn, tình cảm và ý chí của cả dân tộc. Đây chính là nguồn gốc tạo nên sức mạnh để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, trường tồn và không ngừng phát triển.
Trên đất nước ta có rất nhiều địa điểm có di tích thờ cúng các vua Hùng, nhưng Phú Thọ với đền thờ các Vua Hùng trên đỉnh núi thiêng Nghĩa Lĩnh là vùng đất cội nguồn của dân tộc Việt Nam, là trung tâm của tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng. Từ hàng nghìn năm nay, đồng bào các dân tộc trên vùng đất Phú Thọ đã có những cống hiến, đóng góp to lớn để cùng với nhân dân cả nước gìn giữ, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa thiêng liêng này của đất nước ta, dân tộc ta.
Thưa các vị đại biểu khách quý,
Thưa toàn thể đồng bào,
Khai mạc Lễ hội Đền Hùng năm nay, nhân dân ta có thêm niềm vui, niềm vinh dự, tự hào to lớn là tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của nhân dân ta được Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; lòng biết ơn, tôn kính đối với tổ tiên, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta được công nhận là di sản có giá trị mang tính toàn cầu, là sự đóng góp của dân tộc ta vào sự phong phú, đa dạng văn hóa của nhân loại. Vinh dự, tự hào, đồng thời cũng đặt ra cho Đảng, Nhà nước, nhân dân ta và đồng bào các dân tộc Phú Thọ trách nhiệm to lớn là phải tiếp tục bảo tồn, tôn tạo và phát huy hơn nữa giá trị của di sản vô giá này, góp phần xây dựng nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm cho những giá trị văn hóa của cha ông chúng ta để lại mãi mãi tỏa sáng cùng với những bước phát triển của đất nước trong thời đại ngày nay. Chúng ta nguyện mãi mãi khắc sâu và làm theo lời dạy của Bác Hồ kính yêu “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” để đất nước Việt Nam tươi đẹp, dân tộc Việt Nam nhân nghĩa, văn hiến của chúng ta mãi mãi trường tồn, vẻ vang sánh vai cùng bè bạn năm châu.
Một lần nữa, tôi xin chúc các vị đại biểu, khách quý cùng toàn thể đồng bào, đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.
Xin trân trọng cảm ơn”.
3- Tiểu sử Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng
- Họ và Tên: NGUYỄN TẤN DŨNG
- Sinh ngày 17-11-1949.
- Quê quán: Thành phố Cà Mau, Tỉnh Cà Mau.
- Thành phần gia đình: Cán bộ kháng chiến.
- Ngày tham gia Cách mạng: 17-11-1961.
- Ngày vào Đảng: 10-6-1967.
- Trình độ học vấn: Cử nhân Luật . Lý luận chính trị cao cấp.
- Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 6, 7, 8, 9, 10 . Uỷ viên Bộ Chính trị khoá 8, 9, 10 . Bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ . Đại biểu Quốc hội khoá 10, 11, 12.
- Sức khoẻ: Bình thường . Có 4 lần bị thương, thương binh hạng 2/4.
- Khen thưởng: 2 Huân chương Chiến công hạng 3 . 6 Danh hiệu Dũng sĩ . Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng 1, 2, 3 . Huân chương Hữu nghị hạng Đặc biệt của Nhà nước – Hoàng gia Căm-pu-chia . Huân chương ITSALA của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
- Kỷ luật: Không.
    Đại biểu Quốc hội khóa : X, XI, XII, XIII.
Ủy viên Trung ương Đảng khóa : VI, VII, VIII, IX, X, XI.
Ủy viên Bộ Chính trị khóa : VIII, IX, X, XI.
QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC
- Tháng 11-1961 đến tháng 9-1981: Tham gia Quân đội, làm văn thư, liên lạc, cứu thương, Y tá, Y sĩ, Bổ túc chương trình Phẫu thuật ngoại khoa của Bác sĩ Quân y và đã qua các cấp bậc – chức vụ: Tiểu đội bậc trưởng, Trung đội bậc trưởng, Đại đội bậc phó, Đại đội bậc trưởng – Đội trưởng Đội phẫu thuật, Đại đội trưởng và Chính trị viên trưởng Đại đội Quân y (Bí thư Chi bộ Đảng) thuộc Tỉnh đội Tỉnh Rạch Giá .
Học khoá Bổ túc sĩ quan chỉ huy cấp Tiểu đoàn – Trung đoàn Bộ binh và đảm nhiệm nhiệm vụ Thượng uý – Chính trị viên trưởng Tiểu đoàn Bộ binh 207 (Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn) và Đại uý – Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Bộ binh 152 (Uỷ viên Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn) chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp bạn Căm- pu- chia . Thiếu tá – Trưởng Ban cán bộ (Phó Bí thư Đảng ủy Phòng Chính trị) của Bộ chỉ huy Quân sự Tỉnh Kiên Giang.
- Tháng 10-1981 đến tháng 12-1994: Học trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc . Tỉnh uỷ viên- Phó Ban tổ chức Tỉnh uỷ Kiên Giang . Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ – Bí thư huyện uỷ Hà Tiên. Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Kiên Giang . Phó Bí thư Tỉnh uỷ – Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Đại biểu Hội đồng nhân dân Tỉnh Kiên Giang . Bí thư Tỉnh uỷ Kiên Giang, Bí thư Đảng ủy Quân sự Tỉnh, Đảng ủy viên Đảng uỷ Quân khu 9 .
- Tháng 1-1995 đến tháng 5 -1996: Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Đảng ủy viên – Đảng uỷ Công an Trung ương.
- Tháng 6-1996 đến tháng 8-1997: Uỷ viên Bộ Chính trị và Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị, Trưởng Ban kinh tế Trung ương Đảng và phụ trách công tác Tài chính của Đảng.
- Tháng 9-1997 đến 6-2006: Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ – Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ . Chủ tịch Hội đồng Tài chính tiền tệ Quốc gia; Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nguyên; Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ; Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về Đổi mới Doanh nghiệp nhà nước; Trưởng Ban chỉ đạo Nhà nước về các công trình trọng điểm Quốc gia; Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tội phạm và Trưởng Ban chỉ đạo một số công tác khác.
- Năm 1998-1999 kiêm nhiệm nhiệm vụ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bí thư Ban cán sự Đảng Ngân hàng Nhà nước .
- Tháng 7-2006 7-2011: Thủ tướng Chính phủ – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ . Kiêm nhiệm các chức vụ : Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng; Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh; Chủ tịch Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương; Chủ tịch Hội đồng quốc gia về Giáo dục; Trưởng Ban chỉ đạo Cải cách hành chính của Chính phủ; Trưởng Ban chỉ đạo xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng; Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; Trưởng Tiểu ban xây dựng Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (2011 – 2020).
- Chiều 26-7-2011, Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục được bầu làm Thủ tướng Chính phủ với tỷ lệ 470 đại biểu đồng ý trên 500 đại biểu có mặt, đạt 94%.

▪ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất năm 2011. Ngài là một Nguyên nhung tướng soái văn võ song toàn: đối nội lo ấm lạnh hai mùa cho dân được an cư lạc nghiệp tiến đến dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Còn việc đối ngoại ngoài chiến trường, ông tả song hữu đột, thoạt ẩn thoạt hiện, thản nhiên như mèo vờn chuột; khéo như rắn rình mồi…không gấp rút lật đật. Cái bản chất nhạy cảm đặc biệt, ứng xử nhanh trong mọi tình huống, của một nhà Tướng lãnh tài ba nơi ông là vững tin và khôn ngoan là kho chí bửu…còn ngoài ra là của bỏ là đồ vô giá, nhờ đó mà Ngài bách chiến bách thắng trên mọi mặt trận. Nhưng hể làm thì có nên hư đặng thất, nên để hư bỏ; chỉ sợ không làm gì hết rồi ngồi đó trích điểm, đứa con nít 3 tuổi cũng biết trích điểm! Nội cái nắng mưa thôi, ông trời còn ở chưa vừa lòng người, sánh chi chúng ta; cho nên cái Thánh chất của một tướng soái anh hùng: dám nói, dám làm, dám chịu đã thu phục được lòng quân trên dưới một lòng, muôn dân trong và ngoài nước yêu mến và tôn tặng.
    Chúng tôi rất hãnh diện và tự hào, nước Việt Nam chúng ta hiện có những tướng soái oai hùng đã xuất Thánh, sống tại mặt thế gian nầy. Không như những truyền thuyết thể pháp của các tôn giáo cứ ngồi lì một chỗ tụng kinh gõ mõ, lạy dập đầu bể trán cầu cứu Thánh mê tín vô vi. Chỉ có Thánh sống mới giúp được mình, còn Thánh vô vi có biết mình muốn gì mà giúp! Mình không thấy Thánh, Thánh chẳng biết mình đó là Thánh giả tức giả linh thì không có thật.

“Tờ Korea Herald số ra ngày 27/12/2011 đã có bài viết có tựa đề "Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất năm 2011" nói về những đóng góp to lớn của Thủ tướng trong việc đưa Việt Nam thoát khỏi vòng xoáy khủng hoảng.
Năm 2011, khủng hoảng nợ công để lại những hệ quả sâu rộng cho nền kinh tế thế giới. Hạn hán, lụt lội và dịch bệnh do biến đổi khí hậu cùng với những căng thẳng Biển Đông và các nguy cơ xung đột mới trên thế giới đẩy các nền kinh tế tới những thách thức mới.
Trong bối cảnh đó, Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã thể hiện rõ dấu ấn của mình với tài năng lãnh đạo xuất chúng, chèo lái thành công “con tàu kinh tế Việt Nam” vượt qua “cơn lốc xoáy” bằng các quyết sách linh hoạt, kịp thời, cân đối  về kinh tế, tài khóa, tiền tệ và ngoại giao. Kết quả, năm 2011 Việt Nam bước đầu kiểm soát được lạm phát, giữ mức tăng trưởng kinh tế cao và đảm bảo an sinh xã hội.
Nhận định về thành công này của Việt Nam trong bối cảnh khu vực Châu Á đang cảm nhận rõ nét những khó khăn của kinh tế toàn cầu, các chuyên gia kinh tế quốc tế của Hàn Quốc cho rằng Việt Nam đã thoát khỏi “cơn lốc xoáy” của sự tăng trưởng chậm.
Ổn định kinh tế vĩ mô, đi đôi với tái cơ cấu nền kinh tế tiếp tục là thông điệp chính được người đứng đầu Chính phủ chuyển tới cộng đồng các nhà đầu tư và các nhà tài trợ quốc tế về chiến lược hành động của Chính phủ Việt Nam năm 2012.
Tại cuộc họp với các nhà tài trợ CG, thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng được đánh giá cao trong việc thực hiện thành công nội dung chủ yếu của Nghị quyết 11 và đã có những hành động nhanh chóng trong việc định hướng triển khai quyết liệt, có hiệu quả quá trình tái cơ cấu nền kinh tế trong năm 2011; làm bản lề để thực hiện vượt trội các kế hoạch và nhiệm vụ cho năm 2012 - một năm hứa hẹn đầy thách thức không chỉ đối với nền kinh tế thế giới mà còn đối với nền kinh tế của Việt Nam.
Theo cuộc nghiên cứu mới đây của nhóm Giáo sư và chuyên gia kinh tế cấp cao của Chính Phủ Hàn Quốc về tác động của khủng hoảng nợ công lan rộng và biến đổi khí hậu toàn cầu cũng như tầm ảnh hưởng và khả năng lãnh đạo nền kinh tế của các Thủ Tướng trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước thoát khỏi khủng hoảng nền kinh tế nhanh nhất và Thủ Tướng Việt Nam Ông Nguyễn Tấn Dũng được đánh giá là thủ tướng có ảnh hưởng nhất khu vực Châu Á trong việc điều hành thành công nền kinh tế Việt Nam và là người có những quyết định mang tính quyết đoán nhất.
Việt Nam chọn mức tăng GDP 2011 là 5,8-6% trong khi mục tiêu của 2012 là 6%. Duy trì mức tăng trưởng này sẽ giúp Việt Nam ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và đảm bảo an sinh xã hội. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã có những hành động đúng thời điểm, và đã không chọn kịch bản tăng trưởng cao trong giai đoạn hiện nay. Ông Dũng cũng đã ra quyết định thành lập một nhóm chuyên trách giám sát và thúc đẩy nhanh quá trình giải ngân, sử dụng hiệu quả những sự trợ giúp từ bên ngoài, đặc biệt là ODA.
Trong mắt các nhà đầu tư quốc tế, ông được đánh giá cao bởi luôn có những sáng kiến nhằm thúc đẩy gắn kết với cộng đồng quốc tế nhờ vào bản lĩnh vững vàng và những chính sách nhất quán. Những cam kết vững chắc của ông khiến các nhà đầu tư luôn tin tưởng trong việc đầu tư vào Việt Nam. Ông đã có những đóng góp then chốt trong việc nâng tầm ảnh hương trên trường quốc tế của Việt Nam lên tầm cao mới.
Với người Nam, ông được đánh giá cao bởi những gì đã làm trong suốt thời gian ông giữ chức Thủ tướng. Ông luôn quan tâm tới những ý kiến đóng góp quý báu của các thế hệ đi trước, luôn tôn trọng và biết cách sử dụng người tài và luôn có các chính sách hỗ trợ để các doanh nghiệp ổn định trong sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó là các chính sách hỗ trợ phát triển công - nông nghiệp và hỗ trợ sinh viên, người nghèo. Ông là biểu tượng của tinh thần dân tộc Việt Nam trong việc kiên quyết bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc trên cơ sở tôn trọng luật pháp Quốc tế và giữ quan hệ ngoại giao tốt với các nước trên thế giới .
Với những gì đã làm cho Việt Nam, ông xứng đáng được bình chọn là nhân vật của năm 2011 - vị Thủ tướng chính phủ với rất nhiều thách thức nhưng luôn chứng tỏ được bản lĩnh của mình. Ông xứng đáng được người Nam và bạn bè quốc tế yêu mến”.
Hà Minh
Theo The Korea Herald (số ngày 27/12/2011)
Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 22
(Chinhphu.vn) - Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 22 với chủ đề “Người dân của chúng ta - Tương lai của chúng ta”, lãnh đạo các nước ASEAN trao đổi các nội dung ưu tiên của Hiệp hội trong năm 2013, nhất là phương thức đẩy mạnh tiến độ xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và định hướng tương lai của ASEAN cùng những vấn đề khác.
Đẩy mạnh tiến độ xây dựng Cộng đồng ASEAN
Tại Hội nghị, lãnh đạo các nước ASEAN trao đổi các nội dung ưu tiên của ASEAN trong năm, nhất là phương thức đẩy mạnh tiến độ xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và định hướng tương lai của Hiệp hội; duy trì đoàn kết và thống nhất; mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với các đối tác cũng như phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình; trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm...
Lãnh đạo ASEAN nhấn mạnh trong năm 2013, Hiệp hội cần tạo bước chuyển quan trọng trong tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, đẩy mạnh hơn nữa các nỗ lực ở tầm khu vực và quốc gia để đạt được các mục tiêu đặt ra trong các Kế hoạch tổng thể về xây dựng Cộng đồng, đồng thời, cần tiếp tục duy trì đoàn kết và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong tiến trình liên kết khu vực cũng như các vấn đề quan trọng có tầm chiến lược đối với ASEAN.
Các nhà lãnh đạo nhất trí ASEAN cần tiếp tục phát huy vai trò chủ động và đóng góp tích cực vào hòa bình, an ninh, ổn định và hợp tác ở khu vực; phát huy các công cụ và cơ chế hợp tác chính trị-an ninh hiện có ở khu vực vì các mục tiêu trên, như Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC), Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), Tuyên bố 6 nguyên tắc của ASEAN và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+)…
Lãnh đạo các nước đánh giá cao các kết quả đạt được trong triển khai các Kế hoạch tổng thể về xây dựng Cộng đồng năm qua, đề nghị cần tiếp tục thực hiện hiệu quả các kế hoạch, chương trình của ASEAN trên cả ba trụ cột cộng đồng. Các nước cũng nhấn mạnh cần tăng cường hơn nữa công tác điều phối, phối hợp giữa các trụ cột Cộng đồng ASEAN, nhằm bảo đảm việc triển khai hiệu quả các Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng ASEAN.
Các nước nhất trí cần tiếp tục tăng cường hơn nữa hợp tác với các đối tác bên ngoài, nhất là triển khai hiệu quả các thỏa thuận, chương trình hợp tác đã có, đồng thời chủ động định hướng hợp tác tại các khuôn khổ, diễn đàn hợp tác giữa ASEAN với các đối tác như ASEAN+1, ASEAN+3, ARF, EAS, ADMM+…; tăng cường quan hệ với các đối tác như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Hàn Quốc, Nga, EU..., trong đó có kỷ niệm 10 năm quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc, Cấp cao kỷ niệm 40 quan hệ đối thoại ASEAN-Nhật Bản… ASEAN hoan nghênh các đối tác tăng cường hợp tác và đóng góp xây dựng và tích cực vào hòa bình, an ninh, ổn định, xây dựng lòng tin và phát triển ở khu vực. 
Về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, lãnh đạo các nước đã dành nhiều thời gian để trao đổi về vấn đề Biển Đông, coi đây là vấn đề thuộc quan tâm của ASEAN và ASEAN cần có tiếng nói chung, vì liên quan đến hoà bình, an ninh khu vực. Trong trao đổi, các nước đều khẳng định tầm quan trọng của bảo đảm hòa bình, ổn định và an ninh, an toàn hàng hải trên Biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 của LHQ (UNCLOS); tôn trọng và thực hiện đầy đủ DOC đi đôi với thúc đẩy sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC); nhấn mạnh Nguyên tắc 6 điểm về Biển Đông của ASEAN, Tuyên bố chung ASEAN-Trung Quốc kỷ niệm 10 năm DOC. Lãnh đạo các nước ASEAN giao các Ngoại trưởng và các Quan chức cao cấp (SOM) ASEAN tiếp tục làm việc với Trung Quốc nhằm thúc đẩy Bộ Qui tắc ứng xử COC.
Về bán đảo Triều Tiên, các nước nêu quan ngại về tình hình căng thẳng tại bán đảo Triều Tiên, kêu gọi các bên kiềm chế, giảm căng thẳng, phấn đấu vì một bán đảo Triều Tiên hoàn bình, ổn định và không có vũ khí hạt nhân.
ASEAN cần phát huy vai trò tích cực, chủ động bảo đảm môi trường hòa bình, an ninh và phát triển
Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao vai trò của Brunei với tư cách Chủ tịch ASEAN năm 2013, đồng thời nêu đậm những vấn đề thuộc nội dung ưu tiên chung của ASEAN, như ý nghĩa của công cuộc đẩy mạnh xây dựng Cộng đồng ASEAN vào 2015 đối với khu vực, nhất là cần triển khai hiệu quả lộ trình xây dựng cộng đồng ASEAN trên cả ba trụ cột chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa-xã hội; tăng cường kết nối ASEAN cả về hạ tầng, chính sách và người dân; tăng cường quan hệ với các đối tác; xây dựng một Cộng đồng ASEAN gắn kết, thịnh vượng và hướng tới người dân, ngày càng phát huy vai trò và đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển ở khu vực.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh ASEAN cần tiếp tục đoàn kết, phát huy vai trò tích cực, chủ động trong bảo đảm môi trường hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực và trong tăng cường hợp tác ứng phó hiệu quả với các thách thức đang đặt ra, như khủng khoảng kinh tế toàn cầu, thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh hàng hải, dịch bệnh…
Để thực hiện các mục tiêu này, ASEAN cần tiếp tục phát huy vai trò và hiệu quả của các công cụ, cơ chế hợp tác khu vực hiện có về hòa bình, an ninh như TAC, SEANWFZ, Tuyên bố DOC, các nguyên tắc EAS về quan hệ cùng có lợi, ARF, ADMM+…
Về vấn đề Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh ASEAN cần đoàn kết và phát huy tiếng nói chung vì hòa bình, ổn định, an ninh an toàn hàng hải ở Biển Đông; nhấn mạnh việc triển khai hiệu quả các cam kết và thỏa thuận đã có, trong đó có Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông và Tuyên bố Cấp cao ASEAN-Trung Quốc kỷ niệm 10 năm DOC; giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan bằng biện pháp hòa bình; tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 của LHQ (UNCLOS), thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC, tăng cường xây dựng lòng tin và sớm xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam ủng hộ vai trò tích cực của Thái Lan trong điều phối quan hệ đối thoại ASEAN-Trung Quốc, đồng thời nhấn mạnh, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ đối tác ASEAN-Trung Quốc, hai bên cần đẩy mạnh hơn nữa tiến trình trao đổi để sớm xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông.
* Bên lề Hội nghị Cấp cao ASEAN 22, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hội kiến Quốc vương Brunei và có các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo Indonesia, Thái Lan, Philippines, Sigapore để bàn các nội dung hợp tác song phương cùng quan tâm”.
Nguyễn Hoàng

4- Tiểu sử tóm tắt của đồng chí Phùng Quang Thanh
Trân trọng giới thiệu tóm tắt tiểu sử của đồng chí Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Họ và tên: Phùng Quang Thanh
 Sinh ngày 2/2/1949.
Quê quán: Xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, Hà Nội.
Dân tộc: Kinh.
Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam:11/6/1969.
Trình độ học vấn: Đại học Quân sự.
Lý luận chính trị: Cao cấp.
Tóm tắt quá trình công tác:
Tháng 7/1967: Tham gia cách mạng.
1997: Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 1.
1998: Thăng quân hàm Trung tướng.
Tháng 4/2001: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ngày 25/6/2003: Thăng cấp quân hàm Thượng tướng.
Tháng 4/2006: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ngày 28/6/2006: tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tháng 7/2007: Thăng quân hàm Đại tướng.
Ngày 2/8/2007: tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XII, được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Đại biểu Quốc hội khóa XI, XII.
Theo Thông tấn xã Việt Nam
An ninh của Việt Nam gắn liền với an ninh khu vực
“Sau bài phát biểu "Ứng phó với các thách thức an ninh biển mới" tại phiên họp toàn thể của Đối thoại Shangri - La 10, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã giải đáp rõ ràng, hợp lý các câu hỏi liên quan tới những diễn biến gần đây ở Biển Đông và chính sách quốc phòng của Việt Nam”.
▪ Ngài là một Đại Tướng quân trí tài mưu lược, vững như núi, mềm như nước, cầm ấn soái trấn thủ quốc phòng, có quyền tiền trảm hậu tấu để đoạt thắng lợi về mình, nhằm mục đích bảo vệ đất nước, giữ gìn biên giới lãnh hãi Việt Nam được yên bình. Hành tàng của Ngài không khác Đại nguyên soái Thái Sư Văn Trọng trụ đồng của nhà Thương, đã giúp cho Vua Thành Thang dựng nước và giữ nước thời Phong thần Trung hoa. Đại Tướng Phùng Quang Thanh, Ngài là một đấng Thánh dũng mãnh, trụ đồng của nước Việt Nam chúng ta vậy.
Toàn dân tin tưởng vào trí tài mưu lược, khôn khéo của Ngài, tổ quốc Việt Nam trông cậy vào sự sáng suốt anh dũng của Ngài. Chúng tôi yên tâm về Ngài.

“Đại tướng Phùng Quang Thanh khẳng định Việt Nam luôn coi an ninh quốc gia của mình gắn liền với an ninh khu vực và thế giới, mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tăng cường xây dựng lòng tin, phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và thế giới, vì hòa bình, ổn định và phát triển.
Đại tướng Phùng Quang Thanh nêu rõ hiện ở Biển Đông đang có tranh chấp chủ quyền giữa các nước, gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei. Vùng biển này chưa phân định được nên thỉnh thoảng trên Biển Đông vẫn xảy ra những vụ việc đáng tiếc. Những vụ việc như vậy vi phạm luật pháp quốc tế và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), gây lo ngại cho Việt Nam và các nước trong khu vực.
Về việc hoạch định vùng đánh cá cho ngư dân, Đại tướng Phùng Quang Thanh khẳng định Việt Nam luôn tuân theo Công ước về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) và hướng dẫn khu vực đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam cho ngư dân. Tuy nhiên, đôi khi ngư dân Việt Nam cũng vi phạm vùng biển của các nước xung quanh và ngư dân các nước vi phạm vùng biển của Việt Nam. Những vụ việc như vậy cần được xử lý theo luật pháp quốc tế, theo tinh thần láng giềng hữu nghị và nhân đạo chứ không được xâm phạm thân thể và tài sản của ngư dân.
Đại tướng Phùng Quang Thanh nhấn mạnh cần phải có sự hợp tác chặt chẽ về nghề cá giữa các nước, có tuần tra chung của hải quân, thiết lập đường dây nóng để duy trì an ninh, trật tự trên biển, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân làm ăn.
Đại tướng Phùng Quang Thanh nêu rõ hàng năm, vào mùa cá sinh sản, Trung Quốc thường ban hành lệnh cấm đánh bắt để bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nhưng Trung Quốc đã ban hành lệnh cấm đánh bắt cá vào cả vùng biển của Việt Nam. Đây là việc làm Việt Nam không đồng tình và đã phản đối qua đường ngoại giao.
Bộ trưởng Phùng Quang Thanh khẳng định Việt Nam chủ trương những tranh chấp song phương ở Biển Đông cần được giải quyết song phương, những tranh chấp đa phương cần được đàm phán đa phương. Theo Đại tướng Phùng Quang Thanh, "Đường 9 khúc" mà Trung Quốc tuyên bố là tranh chấp đa phương. "Đường 9 khúc" này không có cơ sở pháp lý, không đúng với UNCLOS 1982. Trung Quốc cần đàm phán giải quyết với các nước trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, trên tinh thần hữu nghị, đưa ra giải pháp công bằng, hợp lý mà các bên có thể chấp nhận để đạt được mục đích hòa bình và phát triển trong khu vực.
Đại tướng Phùng Quang Thanh cho biết Việt Nam chủ trương tổ chức giao lưu văn hóa, thể thao cho lực lượng vũ trang của Việt Nam và Philippines đang đóng ở Song Tử Tây của Việt Nam và Song Tử Đông do Philippines đang quản lý, để xây dựng lòng tin, tăng cường hữu nghị và giảm căng thẳng, không xảy ra xung đột.
Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cũng cho rằng trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN, Indonesia đã phối hợp rất chặt chẽ với các nước ASEAN nhằm duy trì hòa bình và ổn định tại Biển Đông. Tại Hội nghị ADMM-5 diễn ra tháng trước tại Jakarta, các Bộ trưởng đã đạt được sự đồng thuận về đánh giá tình hình, đưa ra giải pháp để duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông. Đặc biệt, trong Tuyên bố chung của Hội nghị, các bên cam kết thực hiện đầy đủ DOC, tiến tới ASEAN cùng Trung Quốc xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). 
Về câu hỏi tại sao Đài Loan tới nay không có cơ hội tham gia giải quyết tranh chấp ở Biển Đông, Đại tướng Phùng Quang Thanh nói rằng đây là vấn đề nằm trong chính sách "một Trung Quốc". Đài Loan là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Đài Loan và Trung Quốc cần bàn bạc nội bộ để có một đại diện chung. Liên quan tới việc Việt Nam mua tàu ngầm, Đại tướng Phùng Quang Thanh nêu rõ Việt Nam đã ký hợp đồng mua của LB Nga 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo 686. Các tàu ngầm này sẽ chỉ hoạt động trong vùng biển của Việt Nam. Việc làm bình thường này rất công khai và minh bạch.  
Đại tướng Phùng Quang Thanh cũng cho biết thêm Việt Nam  đang thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trong tình hình hiện nay, phát triển kinh tế được xác định là nhiệm vụ trung tâm và bảo đảm quốc phòng - an ninh để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên.
Khi kinh tế phát triển, Việt Nam từng bước hiện đại hóa quân đội, trong đó ưu tiên hiện đại hóa hải quân, phòng không - không quân, thông tin liên lạc,... để bảo vệ hòa bình, bảo vệ đất nước. Chính sách quốc phòng của Việt Nam là tự vệ, chứ không nhằm vào nước khác và không bao giờ đi xâm lấn bờ cõi của nước khác. Về câu hỏi liên quan tới bài phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt tại Đối thoại Shangri-La 10, Đại tướng Phùng Quang Thanh hoan nghênh và đánh giá cao bài phát biểu này, cho rằng bài phát biểu thể hiện rõ đường đối ngoại hòa bình và trách nhiệm của Trung Quốc trong quá trình phát triển hòa bình. Việt Nam luôn coi việc Trung Quốc, một nước xã hội chủ nghĩa, phát triển hòa bình, có quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và trên thế giới, trong đó có Việt Nam, là điều kiện thuận lợi cho Việt Nam, cho khu vực và thế giới. Đại tướng Phùng Quang Thanh nhấn mạnh Việt Nam luôn mong muốn Trung Quốc thực hiện đúng như những tuyên bố của nước này với thế giới”./.                                                     Nguyễn Chiến - Nguồn: Cổng TTĐT Chính phủ
5- Tóm tắt tiểu sử Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân
    Sinh ngày: 12/06/1953.
Quê quán: Trà Vinh.
Học hàm, học vị: Giáo sư – Tiến sỹ.
Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI
Đại biểu Quốc hội khóa X, XII, XIII
6/1970-12/1979: Nhập ngũ, sau đó học đại học và làm nghiên cứu sinh tại Đại học Kỹ thuật Magdeburg – Cộng hòa Dân chủ Đức (1972-1979).
1/1980-3/1983: Công tác tại Viện Kỹ thuật quân sự - Bộ Quốc phòng, Thượng úy.
4/1983-4/1985: Cán bộ giảng dạy Trường Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh.
4/1985-7/1988: Ủy viên Ban Thường vụ Thành đoàn, Trưởng ban Khoa học – Kỹ thuật rồi Phó Bí thư Thành đoàn TP. Hồ Chí Minh.
8/1988-10/1990: Tùy viên giáo dục Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ Đức; Đảng ủy viên Đảng bộ Đại sứ quán.
11/1990-10/1991: Học kinh tế thị trường tại Trường Đại học Kỹ thuật Magdeburg – Cộng hòa Liên bang Đức.
11/1991-8/1995: Phó Chủ nhiệm Bộ môn Quản lý công nghiệp Trường Đại học Bách khoa TP.Hồ Chí Minh rồi học thạc sỹ quản lý cộng đồng tại Trường Đại học Oregon (Mỹ) và khóa đào tạo chuyên gia thẩm định dự án đầu tư tại Trường Đại học Harvard (Mỹ).
9/1995-4/1997: Trưởng khoa rồi Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh. Phó Giáo sư kinh tế (1996).
5/1997-12/1999: Thành ủy viên, Giám đốc Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường TP. Hồ Chí Minh; Đại biểu Quốc hội khóa X.
12/1999-5/2001: Thành ủy viên, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh.
5/2001-6/2006: Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Hồ Chí Minh; Ủy viên Hội đồng Chính sách khoa học và Công nghệ quốc gia. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng. Giáo sư kinh tế (2002).
7/2006-7/2007: Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại biểu Quốc hội khóa XII.
8/2007-6/2010: Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bí thư Ban Cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Từ 7/2010 đến nay: Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng được bầu làm Ban chấp hành Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội khóa XIII. Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khóa XIII, được Quốc hội phê chuẩn tiếp tục làm Phó Thủ tướng Chính phủ.
Trích bài Phát biểu của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Đại hội thi đua khuyến học toàn quốc lần thứ II.
    ▪ Ngài là một đấng Thánh lúc nào cũng chăm lo trí hóa cho nhân dân bá tánh, tìm phương giúp người, cho người được sáng suốt thông minh, tạo những điều kiện thuận lợi để nâng cao tinh thần nhận thức và phát triển nguồn nhân lực của dân tộc Việt Nam, theo kịp sự tiến hóa của thời buổi văn minh khoa học hiện đại trên thế giới để phụng sự nhơn loại. Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân là hiện thân của Đức Lý Thái Bạch, Ngài là sự sáng xua tan tối tâm khắp hang cùn ngõ hẻm của con dân Việt Nam. Ông là chiếc cầu vòng của hàng triệu anh tài tuấn kiệt qua bên kia bờ đại dương, để truyền bá và quy pháp những tinh ba của vạn quốc đem về xây dựng và phát triển nước nhà ngày một hưng thịnh, công bằng, chân thiện mỹ.
    Là tín đồ tôn giáo, chúng tôi rất hãnh diện và vui mừng nước Việt Nam chúng ta có một vị lãnh tụ bậc thầy đã khơi dậy và phát huy truyền thống hiếu học, khuyến học, khuyến tài đã trở thành một giá trị đạo đức của người Việt Nam, có sức lan tỏa rộng khắp. Cũng như ông đã phát biểu: “đó không chỉ là nét đẹp của văn hóa dân tộc mà còn là sự khơi dậy và bồi đắp nguồn tài nguyên quý giá vô tận của đất nước: đó là con người với có tri thức và văn hóa”. Phải có học, học mới biết, có biết rồi làm mới đúng! Mới trở thành một thành viên ưu tú của đất nước, một người công dân hữu ích của thế giới, đương nhiên nhơn loại tôn tặng lên một phẩm vị  Thánh, Tiên rồi đó vậy.

“Những giờ phút này, chúng ta nhớ tới Bác Hồ kính yêu, Người đã dành cả đời mình để chăm lo học tập cho người dân với mong muốn cao nhất là: “đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Bản thân Người là một tấm gương sáng về tự học. Có lần Bác tâm sự với những cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm: "Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ, tôi phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi, không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau". Kế tục và phát huy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta chủ trương khơi dậy và phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, động viên toàn dân tham gia học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, một nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Khuyến học là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đã được các cấp ủy Đảng quan tâm lãnh đạo, các cấp chính quyền trong cả nước tích cực thực hiện, được các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức và các lực lượng xã hội, các tầng lớp nhân dân nhiệt tình hưởng ứng.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, khuyến học đã trở thành một phong trào quần chúng rộng khắp đến từng cơ sở, từng gia đình và đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân, nhất là tạo cơ hội học tập cho mọi người trong đó có người nghèo, để cả nước sẽ trở thành một xã hội học tập. Trong thành quả đó, Hội Khuyến học Việt Nam đã có đóng góp to lớn, rất đáng ghi nhận. Ngay sau ngày được thành lập, Hội đã sớm phát động phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài, trân trọng biểu dương, khen thưởng, phổ biến kinh nghiệm của những cá nhân, đơn vị có thành tích. Nội dung thi đua khuyến học, khuyến tài ngày càng gắn kết chặt chẽ với yêu cầu xây dựng xã hội học tập ngay từ cơ sở, với phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Thực tế cho thấy ở đâu có phong trào khuyến học - khuyến tài tốt thì ở đó việc tổ chức dạy và học trong và ngoài nhà trường việc chăm lo học tập, rèn luyện đạo đức cho các cháu học sinh, sinh viên sẽ có nhiều thuận lợi, có điều kiện cho người lớn tuổi học tập, góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội.
Hoạt động của Hội Khuyến học Việt Nam và phong trào Thi đua khuyến học, khuyến tài đạt được những thành tựu đáng khích lệ như trên là nhờ 3 trụ cột quan trọng sau đây:
- Trụ cột thứ nhất là truyền thống hiếu học hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Hiếu học đã trở thành một giá trị đạo đức của người Việt Nam, có sức lan tỏa rộng khắp. Đó không chỉ là nét đẹp của văn hóa dân tộc mà còn là sự khơi dậy và bồi đắp nguồn tài nguyên quí giá vô tận của đất nước: đó là con người với có tri thức và văn hóa.
- Trụ cột thứ hai là sự quan tâm và đầu tư to lớn của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, cả giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Hiện nay, cả nước có gần 2,3 triệu học sinh, sinh viên, chiếm hơn 26% dân số. Năm 2010 sẽ hoàn thành phổ cập THCS cả nước. Hiện nay, hơn 40% học sinh tốt nghiệp THPT học tiếp ở các trường đại học và cao đẳng. Hàng năm, đầu tư của Nhà nước cho giáo dục đào tạo liên tục tăng, chi cho giáo dục và đào tạo chiếm 20% tổng Ngân sách Nhà nước; Chính phủ đã ban hành và triển khai thực hiện chính sách cho học sinh, sinh viên vay để học đại học, cao đẳng và học nghề. Nhờ đó hiện nay, đã có hơn 1,3 triệu học sinh, sinh viên được vay để học. Các tỉnh thành phố trong cả nước đẩy mạnh viêc thực hiện Chương trình kiên cố hóa trường lớp học và xây dựng nhà công vụ cho giáo viên có sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ. Năm 2008, tổng số vốn trái phiếu Chính phủ dành cho Chương trình này là 3.700 tỷ đồng đạt; năm 2009, là 4500 tỷ đồng. Tính đến tháng 8 năm 2009, sau 2 năm triển khai đã xây dựng được 62.146 phòng học và 20482 nhà công vụ cho giáo viên; qua đó đã cải thiện căn bản điều kiện học tập cho gần 2,5 triệu học sinh và điều kiện ở cho hơn 50.000 giáo viên ở vùng khó khăn.
- Trụ cột thứ ba là chúng ta đã tạo được phong trào quần chúng cổ vũ mạnh mẽ cho việc học tập của toàn xã hội, trong đó đi đầu là Hội Khuyến học Việt Nam. Phong trào thi đua khuyến học có tính toàn diện về các lĩnh vực giáo dục và đa dạng về các hình thức hỗ trợ giáo dục.
Kính thưa các vị đại biểu!
Trong thời gian tới, tôi đề nghị Hội Khuyến học Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hoạt động khuyến học bằng các phương thức đã có nhằm vào 4 mục tiêu của việc học tập là:
- Học để hiểu biết, để làm người;
- Học để có nghề, có việc làm;
- Học để biết làm cho mình và người khác hạnh phúc;
- Học để góp phần làm cho đất nước phát triển bền vững và nhân loại tiến bộ.
Công tác khuyến học cần đặc biệt tập trung thực hiện tốt 4 nội dung sau đây:
Một là, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập của thanh thiếu niên, tăng tỷ lệ thanh thiếu niên đi học, giáo dục toàn diện học sinh thông qua việc triển khai phong trào thi đua xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Hai là, phối hợp chặt chẽ với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tuyên truyền vận động thanh niên và gia đình, tạo chuyển biến mạnh trong nhận thức: học để có một nghề, có việc làm, tránh nếp nghĩ quá coi trọng bằng cấp cao.
Ba là, hỗ trợ công dân mọi lứa tuổi nâng cao kỹ năng sống, hiểu biết về tâm lý, xã hội, văn hóa, học để làm người, để làm cho cuộc sống hạnh phúc hơn.
Bốn là, làm cho hiếu học, khuyến học trở thành truyền thống của mỗi gia đình Việt Nam, khuyến tài trở thành chính sách của mỗi địa phương, mỗi ngành, mỗi đơn vị và sự quan tâm của toàn xã hội.
Chúc các Đại biểu và tất cả cán bộ, hội viên Hội Khuyến học Việt Nam, các tập thể, cá nhân tiêu biểu của Đại hội tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, luôn sáng tạo để góp phần làm cho công tác khuyến học, khuyến tài trên cả nước đạt nhiều kết quả tốt đẹp hơn nữa, vì tương lai của mỗi gia đình và đất nước Việt Nam./.
    6- Sáng 28.2, tại UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thu Thủy chủ trì cuộc họp bàn về việc phát triển nguồn nhân lực tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2011- 2015. Tham dự cuộc họp có lãnh đạo các sở, ngành liên quan.
Nguyễn Thị Thu Thủy là chính trị gia của tỉnh Tây Ninh. Bà sinh ngày sinh 27 tháng 7 năm 1957 tại quán xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Bà là cử nhân chính trị, cử nhân hành chính, cử nhân ngữ văn và cử nhân quản lý nhà nước.
Chức vụ
Hiện tại bà là chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. Bà có trách nhiệm chỉ đạo các công tác quy hoạch và phát triển kinh tế của địa phương. Và một số công tác khác như công tác quốc phòng, cải cách hình chính, dân tộc và tôn giáo. Bà còn phụ trách theo dõi và chỉ đạo các cơ quan như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nội vụ, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh và Công an tỉnh.
    Tại cuộc họp, lần lượt lãnh đạo các sở, ngành báo cáo về những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX về phát triển nguồn nhân lực tỉnh Tây Ninh, giai đoạn 2011- 2015, đã được ban hành theo Quyết định số 12/2011/QĐ-UBND ngày 31.3.2011.
    Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, nguồn nhân lực tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2011- 2015 phải đáp ứng đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng phục vụ phát triển kinh tế- xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tạo sự chuyển biến về chất lượng đào tạo, dạy nghề; gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội, thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, nhất là nhân lực khoa học - công nghệ, cán bộ quản lý, kinh doanh và công nhân kỹ thuật lành nghề, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
    Sau khi nghe báo cáo, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thu Thủy đề nghị các sở, ngành bổ sung đầy đủ cho báo cáo của từng đơn vị, khắc phục những khó khăn, vướng mắc của từng sở, ngành. Đối với Sở GD-ĐT, cần kết hợp với Sở Nội vụ rà soát lại việc thực hiện chỉ tiêu đào tạo tỷ lệ sinh viên và người có trình độ trung cấp/một vạn dân đến nay ra sao; tạo điều kiện cho các giáo viên, giảng viên tiếp cận những kiến thức mới, tham gia các hoạt động chuyên ngành.
    Chủ tịch cũng giao Sở Nội vụ phối hợp với chính quyền địa phương các huyện, thị sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học; tập trung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức xã. Sở Nội vụ và Sở Ngoại vụ có kế hoạch đào tạo lực lượng cán bộ công nhân viên biết sử dụng thành thạo tiếng Khơ me, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.                                                                                          Theo BTNO.
    ▪ Đầu năm 2013 trong kỷ nguyên hiện đại này, vùng Thánh địa Tây Ninh đã xuất hiện một nữ tướng văn võ song toàn của quê hương trung dũng kiên cường. Một tinh thần đảm đang, nhân hậu, yêu nước thương dân, không phân biệt giai cấp, hòa quyện trong lòng dân như cá với nước; đến với các cơ quan, đoàn thể…như chị lo cho em. Bà là con chim Phượng hoàng bay khắp bầu trời núi Bà Đen hùng vĩ, giang rộng đôi cánh che mát ấm cả tình người. Bà hiện là Chủ Tịch UBND tỉnh Tây Ninh Nguyễn Thị Thu Thủy, được nhân dân nơi đây tôn tặng là vị một nữ Thần sống, bảo hộ và yên ủi, giữ cửa ải địa đầu Tây phương Cực Lạc của vùng Thánh địa Việt Nam, giống tiên rồng  cháu Lạc con Hồng.
    Chúng tôi, là những người dân chịu nhiều nhục nhã, đớn đau trắc trở nhơn tình trong xã hội; vừa là những tín đồ quèn, bạn đồng minh đồng thệ thì đông nhưng vẫn một mình độc chiếc cô quạnh không ai nâng đỡ. Cũng bởi cái bản chất trung can nghĩa khí, dám nói, dám làm, hể lời thật thì mất lòng, đã làm cho thế giới xung quanh mình trở nên thưa thớt, ít oi dần và yên lặng.
    Mong nữ Thần Tây Phương Cực Lạc vươn đôi cánh che ấm mát chúng tôi trên con đường phản hồi bổn thiện bản sắc dân tộc Việt Nam Văn hiến 4000 năm, hướng tới phụng sự đất nước, làm sợi dây liên kết thương yêu. Chân thành biết ơn người.

    Trước kia, “Hớn Thọ Đình Hầu Quan Vân Trường là một vị tướng của Thục tức Lưu Bị. Ta thấy tinh thần đại nghĩa của Ngài trung can nghĩa khí, nhứt là về bằng hữu chi giao, tình nghĩa đối với bạn hữu của Ngài, dám chắc dầu chúng ta dân tộc Việt nam hằng chịu ảnh hưởng văn hóa của Nho Tông. Chưa có được người nào đã giống như Ngài vậy. Tâm trung nghĩa chẳng vì sang mà theo Tào, chỉ chuộng Hớn; nghĩa chẳng vì bạn buổi khổ não truân chuyên mà phụ rãy tình nhau; trung và nghĩa ấy hi hữu.
    Trung, Hiếu, Nghĩa là ba tánh chất của một vị Thánh, vì cớ nên Tiên Nho buổi trước tầm hiền thì duy lựa trong ba tánh đức đó mà tìm thì ắt tìm đặng không lầm. Tại mặt thế nầy, thảng ta có gặp người như thế tức ta quyết đoán chắc hẳn là chơn linh cao trọng, chớ không phải người hèn hạ phàm phu. Trái lại kẻ nào phi ân, bạc nghĩa, bất hiếu, bất trung, là chơn linh hạ tiện đi lần đến hoàn cảnh thú hình thú tính mà chớ”.
    Hữu hạnh thay cho đất nước Việt Nam ta, một vị Thánh Chúa mà cả thế giới đều tôn vinh là bậc chí sĩ yêu nước, anh hùng kiệt xuất của thế kỷ 20 đó là Hồ Chí Minh, Đức Ngài đã khai sinh những đấng Thánh trí tài mưu lược làm phục sanh hồn nước oanh liệt, bất khuất 4000 năm Văn Hiến. Thống nhất đất nước 1975, tiến đến giúp cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh.
    Sự vận động và phát triển không ngừng nghĩ của thế giới con người, trong sự đấu tranh giữa tinh thần và vật chất. Chúng ta phải có giải pháp trung hòa chứ, cũng như có động phải có tịnh…còn gọi là vận động đứng yên, cứ mỗi lần như thế là một điểm nhấn để thực hiện bước nhảy tiếp theo tốt hơn, an toàn hơn và hoàn thiện hơn. Trong khi tinh thần không chịu vật chất, vật chất không hề hòa thuận với tinh thần. Trường quan lại của đạo cũng không khác hơn đời, tôn chỉ của đạo lấy đạo đức nhơn nghĩa làm quyền, còn đời họ lấy quyền lực cưỡng bức, hai đường so nhau khác hẳn.
    Tại mặt thế nầy, chúng ta đã chung khổ cùng nhau để giữ gìn một dãy giang sơn gấm vóc, dầu không tình cũng nghĩa, dầu bỏ nghĩa còn công, đã bao năm khổ hạnh chia đồng, hòa giọt thảm mặn nồng bằng cốt nhục: nay vừa đặng mảy may hạnh phúc, nở nào còn cân nhục so vinh; nên cũng mình hư ấy tại mình, trọng là thế khinh kia cũng thế; đời dường bao chẳng kể tôn ty; nếu ta bày ra tiếng thị phi, biểu sao chúng chẳng khi chẳng dễ; đã cùng nhau đồng minh đồng thệ, hơn mà chi thua ấy là chi; mưu hại lẫn nhau bì cừu hận, ráng giữ chặc tánh hờn nết giận; ngọn hỏa tâm thiêu tận đền thờ; lịch sử kiếp kiếp để nhơ, nơi cửa Thánh ơ hờ hóa quỉ. Phải chung tâm hiệp trí cùng nhau, hướng về đất mẹ Việt Nam thân yêu làm đường chơn thật, rồi tha thứ nhau hay là giúp đỡ lẫn nhau, đặng làm tròn phận sự cùng tổ quốc và dân tộc, hầu làm gương báu cho đời, tìm chí thiện cả tình lẫn ái.
    Với đạo nếu chẳng biết quyền mình là gì, lại bắt chước đồ theo tâm lý thiên hạ, cưỡng bức vô đạo đức, vô nhơn tình thì quả nhiên sái hẳn. Quyền đạo là chỉ lấy đạo đức tinh thần của Tổ Phụ ta để lại trong 4.000 năm làm huệ kiếm, để bảo trọng quốc hồn của nòi giống thì mới trúng, còn ngoài ra dùng phương pháp khác là sai lầm.
“Văn Hiến 4000 năm có sẵn,
Chi cần dị chủng đến dâng công”.
    Chúng ta hãy lấy Nho phong là nguyên gốc của tổ phụ lưu lại làm căn bản, phục sanh hồn nước đã điêu tàn, đánh thức cho nó phục sanh lại với cái năng lực làm sống quốc hồn của mình trong 4.000 năm về trước. Như thảng ta vẽ được khéo, được đẹp, thì người ta đương trông mong cho nó thành tướng. Chừng đó chúng ta không muốn bán cũng có kẻ mua, chẳng phải một nước Việt Nam nầy thôi đâu, mà toàn cầu vạn quốc nài mua mà chớ.
    Nhưng phải làm sao cho nên hình tướng, để có đủ quyền năng bảo trọng cả toàn cầu nhơn loại đặng tồn tại, sống trong tinh thần đạo đức nhơn nghĩa, thương yêu và công chánh, trong sự công bình yêu ái của đấng tạo hóa đã dày công gieo trồng, những hột giống  Thánh đức trong vùng Thánh địa Việt Nam nầy, đến chừng ấy chúng ta có thể trương tấm bảng lên rằng: Nước Việt Nam sẽ làm môi giới, căn bản cho nền đại đồng thế giới đó vậy.
     Vừa qua có một số người, họ bảo rằng “tận thế”, cái thuyết ấy không có đâu, nếu chúng ta dùng lời đặng nói chẳng qua là một giáp đó thôi, tức nhiên là một nền văn minh Đạo Đức chớ không phải tận thế. Kiếp số địa cầu nầy còn vĩnh cửu, chỉ thay đổi hình thể, vạn loại mà thôi, nó vẫn còn tăng tiến mãi. Chúng ta đã ngó thấy qua chừng một trăm năm trước, văn minh con người không đạt đến mức hiện tượng như bây giờ. Cơ tấn bộ tinh thần vật chất dữ dội nhất là trong vòng 50 năm sau. Phật Giáo nói: Qua sắc dân da trắng, tinh thần vi chủ tới sắc dân Thần Thông Nhơn, qua khỏi dân Thần Thông, thì có sắc dân Chí Linh, lúc đó người là Thần, Thánh, Tiên, Phật tại thế. Như vậy còn hai sắc dân nữa cho 500 năm sau. Mỗi sắc dân vi chủ một ngươn niên, kể hai sắc dân nữa chưa xuất hiện, ta cũng kể là 30.000 năm nữa đời sẽ thay đổi khác hơn. Nhơn vật và địa cầu cứ tăng tiến mãi, trên con đường tận thiện tận mỹ, vật xinh, người đẹp, vật bỏ ngu đến khôn, người khôn đến Chí Linh, đến ngày cùng chót toàn là Thần, Thánh, Tiên, Phật xuất hiện ở cõi trần nầy. Lời Chí Tôn tiên tri và quyết định hẳn hòi:
 “Chừng nào đất dậy trời thay xác,
Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần".
    Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam là phong hóa 4000 năm Văn Hiến, gốc bởi Nho Tông thuộc Thánh cầm quyền trị thế, thì lẽ đương nhiên Thánh cũng có hai hạng: Thánh thiện và Thánh ác, mà các thời phong kiến trong cung đình Trung hoa cổ gọi ông Thánh Thiện là Quan Văn; ông Thánh Ác là Quan Võ. Dân gian thường gọi là ông Thiện và ông Ác.
    Thượng đế đã đặc ân riêng cho nước Việt Nam, một dân tộc dòng giống tiên rồng đã phải chịu nhiều nô lệ  và nhục nhã về xác thịt, sẽ được Đức Ngài đặt lên một phẩm vị cao trọng, oai quyền để làm cơ quan cứu thế toàn nhơn loại của thời Hạ Ngươn mạt pháp đại thế chiến kỳ ba nầy. Có liên quan về việc Bí pháp lấy ếm Long Tuyền Kiếm tại Thảo đường Khổ Hiền Trang, mà Tàu (Trung Hoa) ếm không cho nước Nam xuất Vua, hiện Tướng. Đức Hộ pháp nói không phải vậy, hồi đời Phong Thần gần mãn không còn chánh vì vương, nên Ngọc Hư Cung chôn Ngọc Ấn để tiên tri trước “sau nầy ai Chánh vì Vương mới lấy lên được”. Đức Hộ pháp biết, nên xuống Khổ Hiền Trang ra Thảo Đường thu Bí pháp lấy ếm Long Tuyền kiếm cho nước Việt Nam xuất Vương hiển Thánh, mà là Vua hiền Thánh sống, đặng cầm quyền trị thế thời nay.
    Cho nên, chẳng riêng nước Việt Nam ta xuất Thần, hiển Thánh đầu tiên trong kỷ nguyên 21, mà các nước trên toàn thế giới những vị lãnh tụ đang cầm quyền trị thế hiện nay cũng lần lượt đoạt phẩm vị thiêng liêng là do nơi sở hành xuất hiện, có hữu hình nhơn sanh nhìn nhận. Những đấng Thánh ấy, bằng trí tài mưu lược thi hành nhơn nghĩa tiến đến hòa  bình, bằng con đường thương nghị dân chủ, công bằng, văn minh đó là ông Thánh thiện. Trái lại, ông Thánh ác mượn danh nghĩa hòa bình để khoe tài bằng võ khí chiến lược, lấy xương máu của bạn đồng sanh để lập đài danh dự là ông Thánh giả (giả nhân, giả nghĩa), còn ông Thánh thiện mới là ông Thánh thiệt, chắc hẳn vậy.
    Không thể dùng ngọn gươm, mũi súng mà quyết đoán thiên hạ đặng. Tài lực, thế lực, cường liệt của trí hóa gian hùng hay võ khí chiến lược không quyết định thắng thiên hạ đặng, không thể thu phục tâm lý của nhơn loại tin mình đặng, quyết hẳn như vậy. Ta nên lấy đó mà làm bài học và cho dân tộc Việt Nam thấy rằng, chúng ta có một mãnh lực còn mạnh hơn nguyên tử lực nữa kìa, chẳng lực lượng nào tàn sát cùng động đến được là một tinh thần đại nghĩa ái quốc ái dân đó vậy. Nòi giống Việt Nam đã sẵn có một tinh thần đạo đức nhơn nghĩa sống chung lộn cùng nhau, từng chia đau sớt thảm, cùng nhìn nhau là anh em ruột thịt, đồng minh đồng thệ, sẽ thâu đoạt thắng lợi một cách vinh diệu.
GIẢI PHÁP HÒA BÌNH NHƠN NGHĨA BIỂN ĐÔNG
CỦA CHƠN ĐẠO CAO ĐÀI TÒA THÁNH TÂY NINH
Ngày giờ kia Quốc Gia Việt Nam sẽ thâu phục thiên hạ với một tinh thần đạo đức. Ấy vậy, cái tu chỉnh về tinh thần đạo đức là một điều tối yếu tối trọng hơn hết.
Dầu cho đấu tranh để lập quyền sống của mình, ít nữa phải có Nhơn-Đạo đặng giúp mạng sống của người, chớ đừng bảo vệ mạng sống của mình để chiếm đoạt mạng sống của kẻ khác, tấn tuồng ấy chỉ nói là quả kiếp mà thôi, nền Chánh-Giáo Cao Đài cốt-yếu làm thế nào đừng cho họ cướp sống lẫn nhau mà an-ủi với nhau ấy là chí hướng của Đạo đó vậy. Cái chánh-nghĩa của Hiệp-Chúng-Quốc ngày nay thiên-hạ đều ngó thấy trên con đường duy nhứt phải đi, và con đường ấy có thể tạo hạnh-phúc cho nhơn-loại, phải có sự hiệp một cùng nhau không còn tranh quyền lợi giai cấp, họ sẽ đi đến một cảnh hòa-bình trong bác-ái, trong công-chánh.
Ấy vậy, thuyết đại đồng thế giới trong buổi nầy, Chơn Đạo Cao Đài cốt yếu để làm cho loài người biết mình do một nguyên căn linh hoạt sản xuất chung nhau, biết nhìn nhau là anh em đồng một căn nguyên mà đến. Từ cổ chí kim các Tôn giáo tìm đủ mọi phương làm cho loài người thức tỉnh tinh thần, biết nhìn nhau là cốt nhục. Hại thay! loài người chẳng biết nhìn chơn lý của Đạo, những luống mơ hồ, Đức Di Lạc buộc lòng phải đến tạo nền Đạo Cao Đài, chủ trương cho loài người một đại nghiệp, hiệp một hoàn cảnh, chung sống nhau một tinh thần, một căn bản, quy tựu cho toàn sắc dân, hầu bảo trọng cái sống của nhau, sớt ngọt chia bùi, bảo tồn nhau cho qua sự khảo đảo đau đớn nơi khổ cảnh nầy từ trước.
Muốn đoạt cho được mục đích ấy, duy lấy đạo đức tinh thần, muốn kỉnh nhau, hòa nhau nhìn nhau là ruột thịt, mà thấy nhà bạn mình có nhiều của lại ganh ghét, đứa nầy dành của đứa kia, lại thêm đứa thứ ba đứng ở bên ngoài xúi bậy; dục loạn tương tranh, hỏi vậy có hòa được chăng ? Nếu còn giành ăn, ở, mặc, sang, giàu, cao trọng thì không thể nào đi đến đại đồng tâm lý được.
 Cái hiện tượng của chúng ta đã thấy trước mắt, nước nào tìm phương pháp đại đồng thế giới mà chẳng biết hiệp tâm lý làm một, thì chỉ là chánh sách vô hiệu nghiệm đó thôi.
        Vì cớ, Đức Di Lạc đến tạo một Đại gia đình nầy có một ý nghĩa tối cao tối trọng, là muốn thế nào, dầu nam hay nữ thương yêu mực thước hiệp tâm lý cả loài người mà tạo thành khuôn mẫu, một thế hệ mà gây tình anh em cốt nhục, vừa thi hài, vừa trí thức tinh thần mà chung sống cùng nhau.
 Thoảng ngày kia anh em biết thương yêu nhau như ruột thịt, toàn quốc dân Việt nam hiệp một, thì hột giống đại đồng thế giới mới mong gieo rắc khắp nơi, gầy dựng tạo thành nền móng vĩnh cửu, bằng chẳng thì các phương pháp khác chỉ sẽ là vô ý thức mà thôi.
Chúng ta đã có Văn Hiến, đã có phong hóa, có đạo đức, cả nền Chánh trị vững chắc của Tổ-Tiên lưu lại 4.000 năm, không cần xin ai hay nhờ ai nữa, trước kia làm thế nào bây giờ cũng lập y nguyên lại như thế ấy.
 Muốn cho vùng biển Đông được Hòa Bình, cần có giải pháp sau đây:
 Đặc biệt hơn quyền đời, những vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo suốt cả một kiếp người, để chuẩn bị khi không còn đủ sức phụng sự đạo nghiệp mới chơn truyền cho người kế chí.
Quyền đời thì khác hơn, cứ luân phiên thay nhau kế thừa mỗi một nhiệm kỳ là 4 năm; vị nào phụng sự cho dân đắc lực thì được dân công cử thêm một nhiệm kỳ thứ hai nữa.
Chúng ta hãy vui mừng, mạnh dạn “mượn thế đặng toan phương giác thế”, mà tận dụng cái định mức thời gian 4 năm nhậm chức cầm quyền, nhiệm kỳ mới của các nhà lãnh tụ khối ASEAN và 4 bậc đàn anh kết nghĩa với hiệp hội cộng đồng ASEAN là: Trung quốc, Hàn quốc và Nhật… vùng Châu Á Thái Bình Dương. Thứ tư là Mỹ - Châu Âu.
Với tư cách hiệp hội ASEAN phải bám chặc Liên Hiệp Quốc và lấy tinh thần của toàn thể nhơn loại trên toàn cầu làm gốc, bằng giải pháp Bảo Sanh NHƠN NGHĨA đại đồng, trong pháp thương yêu và quyền công chánh.
 Mùa xuân năm 1995 Đức Phật Chuẩn Đề Bồ Tát có nhắc đến trận Vạn Tiên, rồi cho Thân Công Báo biết câu hỏi thứ 2 trong 5 câu mà ông đã cho phép hỏi những gì không hiểu:     - “Trận Vạn Tiên xảy ra ở biển Đông Thái Bình Dương, thế chiến thứ ba kỳ nầy Nguyên Tử Khí phải nổ, nổ đặng cho các chư Thánh phục nguyên Thánh thể trở lại chớ! Mà con biết Nguyên Tử Khí tại mặt thế gian nầy là gì không?
 - Thưa ông, nếu Nguyên Tử Khí nổ thì còn gì sự sống trên mặt địa cầu nầy?
         Ông rầy: “Nguyên Tử Khí thuộc thổ là ba cái tánh chất nhơn đạo của con người là: trung, hiếu, nghĩa. Ba bửu pháp đó hiệp một là vị Thánh sống cứu thế kỳ ba, các Đấng ấy chế ngự võ khí tối tân dành để giết người bằng “trí tài mưu lược” đặng thu phục nhơn tâm, chỉ vì biết thương người mà tìm đủ phương cách bảo tồn sang mạng cho người. Nói đại thế chiến nghe dữ lắm chớ đến màn ba tới đây không có chết ai đâu mà sợ !”
HỢP HỘI ASEAN LẦN THỨ I.
1/- “Thiên thời địa lợi đôi điều sẵn, chỉ có hòa nhân mới hiệp quần”. Do vậy, với tư thế chủ động chúng ta tạo ra những điều kiện thuận lợi hợp riêng nội bộ ASEAN, phải bảo mật và tự định chọn một trong những giải pháp hòa bình của mỗi nước trong khối, không ngoài  khuôn luật thương yêu, không sử dụng võ khí chiến lượt mà bằng giải pháp hòa bình thương nghị trên tinh thần thi hành Nhơn Nghĩa mang tính phổ biến khách quan.
- 10 nước anh em, có dịp ngồi xích lại gần nhau hơn để tạo thành một lực lượng năng động; sáng tạo đủ chiến thắng đặng trở mặt ra với tinh thần cường liệt Bảo Sanh NHƠN NGHĨA bất chiến tự nhiên thành, đem lại hòa bình hạnh phúc cho nhơn loại. Ngày giờ nào 10 nước ASEAN hiệp đồng tâm thành một khối chủ nghĩa thương yêu, thì không còn có một lực lượng nào, một thế lực nào thúc phược tinh thần đạo đức của ASEAN đặng! ASEAN đã sẵn có một tinh thần Nhơn Nghĩa, nó còn mạnh hơn cả nguyên tử khí nữa kìa.
Qua bài phát biểu của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 2012, đã nêu lên một tinh thần Trung với nước; hiếu với đảng; nghĩa với dân tộc. Được trích ra cái tâm huyết xây dựng sâu sắc của Người, không phân biệt chủng tộc, đảng phái, tôn giáo… chúng ta lấy tinh thần đại nghĩa đó đem áp dụng riêng cho khối ASEAN và chung cho các nước trên toàn thế giới, xem nhau như anh em ruột thịt, thì mặt trận đấu trí vùng biển Đông với giải pháp “Hòa Bình Nhơn Nghĩa 4 năm”, Việt Nam sẽ được thế giới vinh danh trên trường quốc tế: “Điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là: tất cả chúng ta, từ trên xuống dưới, đều phải có quyết tâm rất lớn, có sự thống nhất rất cao, có biện pháp thực hiện quyết liệt, khả thi, chỉ đạo chặt chẽ với một phương pháp tư duy đúng đắn, tỉnh táo, bình tĩnh, không cực đoan, không để các thế lực xấu lợi dụng, xuyên tạc, kích động, phá hoại. Có những việc không thể chỉ làm một lần là xong. Ngược lại, phải làm rất kiên trì, bền bỉ; làm thường xuyên, liên tục; làm đi làm lại nhiều lần như đánh răng, rửa mặt hằng ngày. Có khi giải quyết xong vấn đề này lại nảy sinh vấn đề khác, làm được việc này lại xuất hiện việc khác. Nếu không xác định như vậy thì mỗi khi thấy có sự việc tiêu cực trong Đảng dễ mất bình tĩnh, nảy sinh tư tưởng bi quan, hoài nghi, hoặc mất niềm tin, phủ nhận mọi sự cố gắng và kết quả chung”.
- Chúng ta không xử dụng võ khí chiến lược giết người, để làm phương sống trên mặt trận hình thức “thiếu nhi” ấy nữa đã lỗi thời quá rồi. Để phù hợp với kỷ nguyên 21 trên mặt trận trí thức mà toàn thể nhơn loại đã “trưởng thành” và đang khác vọng một hòa bình không có chiến tranh, trong tình thương yêu công bằng vĩnh cửu trường tồn. Biết nhìn nhau là anh em cốt nhục lấy chữ hòa làm tôn chỉ, đừng tương tàn, tránh xa chiến tranh, diệt tận chiến tranh, hãy xích lại gần nhau cộng yêu hòa ái thì thiên đàng tại thế ở trong tầm tay của chúng ta không xa lắm!
Khối ASEAN sẽ làm được! ASEAN sẽ làm gương cho các tổ chức quốc tế trên toàn thế giới, tiên phong bằng giải pháp Bảo sanh “Hòa Bình Nhơn Nghĩa thương yêu” để đánh đổi “Hòa Bình Võ Khí chiến tranh”, làm cơ quan chuyển thế phục sinh lại một thế giới thái bình hạnh phúc.
HỢP HỘI ASEAN LẦN THỨ II.
2/- Khi ASEAN đã có giải pháp Hòa bình rồi, mới định ngày triệu tập mở cuộc hợp lần II, lần nầy mời 3 anh láng giềng Trung Quốc, Hàn quốc và Nhật Bản (A+3) vào cuộc. ASEAN nêu ra giải pháp “Hòa Bình Nhơn Nghĩa 4 năm” của mình, phải lấy trí đặng thu phục nhơn tâm, quan trọng nhứt là kể từ lúc nầy tinh thần đại nghĩa bất bại của ASEAN không hề nao núng; khó khăn không nản, không khó không nên. Hy sinh cái nhỏ cái riêng tư mỗi nước vì cái lớn chung nhất ASEAN nhân rộng ra toàn thế giới, trước mặt sau lưng đồng một mực, đề phòng kẻ xấu lợi dụng thủ thuật chia để trị; họ dục loạn từ trong ra ngoài, rồi từ ngoài vào trong, để đạt cho được cái tham vọng của họ muốn, giữ vững lập trường kiên định không ngã lòng thối chí. Giải pháp “Hòa Bình Nhơn Nghĩa Biển Đông”, cư xử cũng như anh em ruột thịt trong nhà, cho nên có 4 ý như sau:
BƯỚC NHẢY CỤC BỘ.
a- Trong nhiệm kỳ 4 năm (2013-2017) tới đây, các bên ký hứa việc tranh chấp mấy hòn đảo (của cải vật chất riêng tư, nó cũng là ngòi nổ chiến tranh) tạm gác lại, để xoa dịu cơn sốt tham vọng của đối phương. Trãi qua một thời gian thân thiện rồi tùy cơ ứng biến, lúc ấy mới nhắc luật nầy (DOC) luật nọ (COC), hoặc sau 4 năm khi sự thương yêu đã đến lúc chín mùi anh em chúng ta bàn tiếp…
+ Lấy thí điểm 4 năm cũng là thời gian để ASEAN và Trung quốc; Hàn quốc và Nhật Bản có cơ hội cọ xát để phát tiết tình yêu thương nồng nàn chơn thật, tương ái tương thân, chia sẽ và yên ủi hơn trước kia, hể thương thì dễ lắm; còn ghét khó trăm bề. Khối ASEAN phải chủ động trên mặt trận trí thức thương yêu thi hành nhơn nghĩa, hướng tới dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, làm chiếc cầu nhơn nghĩa ngày càng sâu sắc hơn chuẩn bị cho nhiệm kỳ kế tiếp…
+ Với Mỹ, ASEAN phải có “niềm tin và khôn ngoan là kho chí bửu, còn ngoài ra là của bỏ là đồ vô giá”. Bằng giải pháp “Hòa bình Nhơn Nghĩa 4 năm”, cũng là phương làm nền móng giúp cho Mỹ trở thành một ông anh ôn hòa hiền đức dễ thương ra tay nghĩa hiệp bảo vệ một đàn em vừa mới trưởng thành nơi vùng biển Đông Nam Châu á, được trên thuận dưới hòa.
 b- Không tác động để tạo ra chiến tranh; không tin với nước nào cố gây ra chiến tranh.
         c- Không xử dụng võ khí chiến lược; ỷ mạnh hiếp yếu, giàu hiếp nghèo… mà phải bằng nghĩa cử cao thượng đấu trí thắng với danh Nhơn Nghĩa, mới đáng mặt anh hùng tuấn kiệt trong thời buổi khoa học văn minh hiện đại ngày nay.
d- Trên thế giới nầy, Nước nào thực hành hai chữ Nhơn Nghĩa cho ra thiệt tướng, thu phục tâm lý của Nhơn sanh vào khuôn pháp thương yêu và quyền công chánh, hiệp lại làm một được. Thì ngôi vị trời tại thế của nước đó chắc hẳn vậy.
3/- Nếu Trung quốc không đồng tình giải pháp “Hòa Bình Nhơn Nghĩa Biển Đông” nầy, thì Khối ASEAN cử đại diện nước nào có tình sâu nghĩa nặng với Trung quốc (A+1), đến hội ý kín và bổ sung thêm với cấp lãnh đạo của Trung quốc về giải pháp Hòa Bình Nhơn Nghĩa 4 năm, cho ông anh khó tính hiểu rõ hơn! Giải pháp nầy nhằm mục đích “xoa dịu tình thế”, “hòa hưỡn như mèo vờn chuột” làm giảm khí lực; uy tín của Hoa Kỳ và Trung Quốc 4 năm tới Ä