HƯNG CHÂU PHẠT TRỤ KỲ BA

    “Luật Thương-yêu và Quyền Công-chánh của Đức Chí-Tôn nó không định-giới, định-hướng nơi nào tất-cả. Thật ra Đức Chí-Tôn đến lập Thánh-thể của Ngài, tức-nhiên lập Hội-Thánh thay thế hình-ảnh của Ngài nơi mặt thế-gian, tức-nhiên ở địa-cầu 68 này, cốt yếu Ngài tỏ cho nhơn-loại biết đều ngó thấy rằng: Ngài đến đặng Ngài chia khổ-não với con cái của Ngài, Ngài lấy xác-phàm của các phần-tử tức-nhiên các lương-sanh nơi mặt thế-gian này đặng Ngài tuyển-chọn lập Hội-Thánh, tức- nhiên là Thánh-thể của Ngài và Ngài đem cái luật ấy giao cho Hội-Thánh, mà luật ấy không có nhiều, chỉ có một mà thôi, cái Luật của Ngài là Luật Thương-yêu, tức nhiên là Luật Từ-bi, còn phép của Ngài cũng có một mà thôi, đó là Pháp Công-chánh, Công-bình.
    Yêu-ái và Công-bình như thế nào ? Yêu-ái đặng chi ? Yêu-ái đặng có phương an-ủi chia đau sớt khổ cùng nhau. Công- bình đặng chi ? Công-bình đặng có phương dìu-dắt mỗi chúng ta trên con đường Đạo có niêm-luật, có chuẩn-thằng.
     Cái khuôn luật thương-yêu nó làm mực thước cho chúng ta đặng định quyền công-chánh trong một gia-đình, nếu vợ không công-chánh với chồng, chồng không công-chánh với vợ, thì gia-đình không thể gì hòa đặng. Vua không hòa chánh với tôi, tôi không công-chánh với vua, không lấy tâm nào làm mực-thước thì trong nước không có hòa đặng. Nhơn-loại cả toàn thể không có công-chánh đối-đãi với nhau, thì nhơn-loại ly-loạn mãi thôi, chẳng hề khi nào hưởng được cái hạnh-phúc hòa-bình.
    Ấy vậy khuôn luật của Đức Chí-Tôn để trong cửa Đạo, là khuôn Luật Thương-yêu và cái quyền hành Công-chánh.
    Giờ phút nào nhơn-loại biết lợi-dụng mặt luật và quyền-năng ấy mới đem cái hạnh-phúc hòa-bình cho nhơn-loại tương-lai tới đây. Bằng chẳng vậy, thì cái nạn tương-tàn, tương-sát vẫn tiếp-tục mãi mà thôi.
    Quyền Đạo ngày nay do Luật Thương-Yêu mà thành tướng vậy, mà nếu do Luật Thương Yêu thành tướng thì không có quyền-năng nào tàn phá nó đặng; nó có sợ chăng là sợ luật thù hận. May thay cả lực lượng thù hận cũng không xung đột được, bởi có bàn tay Thiêng-Liêng gạt thù hận ra khỏi rồi.
           Nó nên hình bởi sự thương yêu, trưởng thành trong sự thương yêu, bởi hình chất của thương yêu hể càng ngày càng lớn lên càng tráng kiện, nó sẽ làm chúa cả thù hận không hề xâm lấn nó đặng”.
    Qua những thiện ý nêu trên của Đức Giáo Chủ Hộ Pháp đã chơn truyền lại cho đoàn hậu tấn, nhứt là chức sắc Hội Thánh của Ngài cũng gọi là Pháp Chánh ai cũng được truyền, dù trực tiếp bằng vô tự hay gián tiếp qua hữu tự. Nhưng chúng ta có thực hiện đúng như vậy hay chưa? bằng ngược lại, sao gọi là làm đúng Tân luật và Pháp Chánh truyền, nhất là Trụ Vương Đầu Sư Tám ? Người cuối cùng kế nghiệp cái triều đại nhà Thương đã suy đồi chờ ngày đổ sụp do nơi bàn tay của ông ta, rồi đây ông phải tự hỏa thiêu trong ngọn lửa thương yêu và công bằng, đốt cháy hết những tàn tích lạc hậu mê tín dị đoan thiếu chơn thật, và những tội lỗi oan khiên mà ông đã gây ra cho biết bao người, làm nhơ danh đạo từ bấy lâu nay.
    Quả thật Trụ Vương Đầu Sư Tám không phải là một tín đồ của hai đấng chưởng quản Hiệp Thiên Đài, có ai nghe ông nhắc tới Hộ Pháp đâu? Ông sợ chết hay sợ mất chức, liệu ông tránh khỏi cái triết lý sợ phải hay quấy nơi cõi Thiêng Liêng hằng sống hay không cho biết? Thế mà Trụ Tám bảo rằng làm đúng Pháp chánh truyền, Đức Hộ Pháp giao cho một môn đồ phản phúc như ông à? Ông chỉ là con thú của Đức Lý cởi, nhưng Đức Lý ở đâu? Đức Chí Tôn Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát mà ông thường khẩu niệm hằng ngày ấy ở đâu? Các đấng thiêng liêng của ông ở đâu, ông chỉ cho thấy thiệt coi? Rõ ra mê tín, cố tình tránh né, có gian mà không ngoan, tin vào nơi giả cảnh không có thật. Chỉ có Đức Hộ pháp mới đủ quyền năng lấy giả tạo chơn, Trụ Vương Tám muốn bắt chước Hộ pháp à? Trụ Tám dám mượn danh đạo để tạo danh mình thì coi chừng cái giả ấy nó sẽ diệt tận cái giả hình của ông.

ĐỨC LÝ DỤC LOẠN
    Đã đến lúc buộc phải hưng Châu phạt Trụ, “nên để hư bỏ, thiệt còn giả mất” rồi, hy sinh một người mà cứu hàng triệu người, “hy sinh vạn linh đặng phụng sự vạn linh”. Và nếu không dám phạt Trụ Vương Thượng Tám Thanh, chẳng khác nào như chiến sĩ ra mặt trận mà sợ chết sao đáng mặt tướng quân tướng sói? Dầu có phải hy sinh tánh mạng, bỏ cái nhỏ vì cái lớn để đánh đổi một kiếp sống thừa nầy vì hạnh phúc yên bình của hàng triệu người tại sao không dám đổi? Cho nên Đức Lý không còn cởi con thú Nguyễn Thành Tám ấy nữa. Có nghĩa, Ngài không còn dùng con vật đã yếu tha già thảy, hôi thối bẩn thỉu, ăn dơ uống vụn, không còn đầu óc sáng suốt minh mẫn, giúp cho vừa ý của ông chủ phản hồi bổn thiện, biểu một đàng đi một nẽo, biết đi mà không biết về, lì lượm thật là tai hại. Đức Lý dùng “em Tám” từ đàn cơ 1973 sau khi Đạo lịnh giải thể 01-1979 được ban hành để “ra tay dục loạn đặng phân rõ chánh tà, hầu giúp cho Hội Thánh có phương trừ khử”, vậy Hội Thánh nào mới có đủ thẩm quyền trừ khử diệt tàn cho khỏi hại? đó là Hội Thánh Quốc Đạo Nam Phong Việt Nam, thống hiệp tất cả tinh thần nhân ái cầm cân công chánh của 92 ức nguyên nhân anh hào tuấn kiệt, trong 800 trấn chư hầu khắp nơi trên thế giới về thảo phạt Trụ Vương Đầu Sư Tám.
    1- Đạo loạn thức tôi trung.
    Đức Lý Đại Tiên không bao giờ xúi “em Tám” làm bậy! Hơn nữa, dù Đức Ngài vâng lịnh Ngọc Hư cầm thiên thơ cho Khổng giáo xuống thế độ dẫn 92 ức nguyên nhân quy hồi cựu vị đi nữa, nhưng “đừng buộc Lão phải tùng đời”. Ngài chỉ mượn cái dã tâm của Nguyễn Thành Tám để dục loạn cho thất chơn truyền, phạm thệ môn quy, làm cho triều đại mau suy tàn, muôn dân xa lánh. Nhằm mục đích “quậy cho đục” thì đạo mới loạn đặng “lóng trong” thức trung thần, tuyển chọn những bậc hiền tài nhân sĩ đang mai danh ẩn tích chờ đúng thời cơ xuất hiện. Chỉ có những đấng đại nghĩa ấy mới tạo thành một lực lượng đủ chiến thắng, đặng trở mặt ra với tinh thần cường liệt của Đức Chí Tôn tạo thời chuyển thế, thay đổi một thế giới mới, con người mới gọi là thánh đức tân dân lập nên một nhà Châu hưng thịnh.
    2- Có Giúp mới có quyền Phạt.
    Khi dựng bảng Phong Thần tái diễn tức Phong Thánh xuất hiện kỳ ba đêm mùng 7-4 Nhâm Thìn (2012), Đức Lý không còn dùng “em Tám” ấy nữa, chủ ý của Đức Lý muốn cho con kỵ vật đáng thương của Ngài biết hồi đầu hướng thiện, ăn năn sám hối tội tình xét câu minh thệ gởi mình cỏi thăng. Hay nói như vầy, Đức Lý dùng tức cởi “em Tám” từ khi ĐL:01-1979 cho đến năm 2012, đã 33 năm trên sân khấu Phong Thần tái diễn kỳ ba, “em Tám” là một diễn viên Trụ Vương xuất sắc, là một con vật đáng thương. Nhưng đến đêm mùng 7-4 Nhâm Thìn (2012) tuồng hát đã mãn, rất tiếc sau khi “em Tám” đã xuống sân khấu rồi vẫn còn dụng quyền một vua Trụ hôn quân là sai hoàn toàn, cho nên tín đồ Nguyễn Công Nhuận từ Hạo Nhiên Tăng xuất pháp thân thi hành Nhơn Nghĩa: lạy 3 lạy  Nguyễn Thành Tám cũng đồng thể như Tổng Bá Dám lạy Trụ vương Đầu Sư Tám trên đài Phong Thần trước mặt Bạch Ngọc Kinh Đền Thánh Tây Ninh có hàng trăm người làm nhân chứng công bằng, nhằm mục đích ép ông Tám tự tỉnh sửa mình. Nhưng một năm lặng lẽ đi qua ông không hề có một bằng chứng cụ thể nào trước mắt nhơn sanh để chứng tỏ rằng ông biết hối cải ăn năn những tội lỗi đã gây nên, ngày giờ nào Trụ Vương Tám không chịu thú tội thì cửa Hư Linh kia vẫn còn đóng cửa, nhơn sanh từ bỏ ngay.
     Một buổi sáng Tháng 4- quý Tỵ (2013) Trụ Vương Tám thản nhiên nói với Tổng Bá Dám tại văn phòng Đầu Sư đường: “thôi tới đây việc ai nấy lo, đừng làm phiền tôi nữa !”. Quả thật con thú của Thông Thiên Giáo chủ trong Phong Thần Trung Hoa là Trụ Vương Ân Thọ, còn với Phong Thần tái diễn kỳ ba thì con thú của Đức Lý cởi là Trụ Vương Đầu Sư Thượng Tám Thanh. Vua Trụ ỷ vào sức mạnh phi thường của mình, nhưng thuộc hạng hữu võng vô mưu, thế mới dễ sa vào mê hồn trận mỹ nhân kế Hồ Ly tinh tà đạo.
    Trụ Vương Tám nghĩ rằng Nguyễn Công Nhuận muốn làm khổ nhục kế, đặng nhập vào bọn sâu mọt nịnh thần đục khoét một thể xác bệnh hoạn nan y bất trị, một ung bứu lây lang phát tán nguy hại cho dân tộc Việt Nam à ? Không đâu! Vì quá thương anh, muốn cứu anh mà cam đành dùng phép chính trị đặng ép nhơn sanh tùng bổn thiện chớ chẳng có chi là lạ. Nay anh đã bất nhân thất đức càng lún sâu vào tội lỗi, hướng thiện anh không ưa, anh ưa việc ác, thôi đành thảo phạt cũng đáng một kiếp người giả trá gia đình trị, kết bè lập đảng. Tổng Bá Dám muốn thi hành Nhơn Nghĩa trên đài Phong Thần để cải sửa thiên thơ bằng phương hưng Châu giúp Trụ, nhưng không qua khỏi luật thiên điều định sẵn công thưởng tội trừng, hưng Châu phạt Trụ. Đã đến lúc màn chót của tuồng hát nhà Thương đã 88 năm phải giải thể, tiêu vong trong tay Trụ Vương Đầu Sư Tám, để thay cũ đổi mới một nhà Châu  khoan dung tha thứ và nhân từ độ lượng.

                                        ĐỨC HỘ PHÁP DỤC NGHỊCH

    Đức Hộ Pháp dục nghịch để tác động vào ý chí của chúng ta phát tiết một chơn khí  kiên cường, cái thất đạo là do nơi thiếu chí hùng dũng và cương quyết, phải biết phân rõ chánh tà nên hư giả thiệt, chọn con đường chánh đạo chiến thắng trong khuôn viên bác ái và công bằng để phụng sự vạn linh tránh xa tả đạo.
    Dục nghịch của Đức Hộ pháp là phương giúp cho chúng ta đào luyện để có một phương pháp về mặt trí thức tinh thần, ứng xử kịp thời với những sự việc xảy ra ngược lại trái hẳn với thế tình không như ý của mình muốn hiện tại, giúp cho chúng ta tự bào chửa lấy mình và cho người bằng phương lý luận và sở hành mà thắng đối phương mới đáng mặt phi thường. Thế giới vật chất nầy có hai mặt đối lập tương phản nhau, bổ sung cho nhau, khắn khít với nhau như hình với bóng vậy, trong cái đúng có cái sai, trong giả có thiệt… Nếu chúng ta cố chấp bảo thủ chệch hẳn thuận về một phía, thì dễ bị thất bại một cách thảm hại không kịp thời đối phó với trường hợp bất khả thi nghịch lại xảy ra. Cho nên Đức Ngài dục nghịch giúp cho chúng ta phải biết động não mà tiên đoán tiên liệu, như câu: “đắc văn sách thông thiên định địa, phép huyền công trụ nghĩa hóa thân”.
    Nếu không hiểu cái giá trị Thuận và nghịch, không chủ động chuyển bại, biến cái sự cố xấu nhất để thành thắng thì chẳng hóa ra sự kiện trước mắt là giả tướng? chịu thua cuộc  hay sao? Không khéo chúng ta trách tại sao Đức Ngài dạy lấy chữ hòa làm tôn chỉ, rồi cũng chính ông ra tay dục nghịch gián tiếp làm cho tinh thần của nhơn sanh bất nhứt loạn cả lên à ? Dân tộc Việt Nam chúng ta có câu “thất bại là mẹ của thành công” đó vậy, mỗi lần thất bại là mỗi lần khôn lên một mức. Cho nên nghịch cũng là quy luật phủ định của phủ định, còn gọi là Bí pháp, mỗi lần dục nghịch là một lần tấn hóa cao lên để thay cũ đổi mới ngày càng tư duy hơn, văn minh hơn tiến gần đến chân thiện mỹ là nhờ vào phạm trù đối lập thuận nghịch. Như chiến tranh và hòa bình cũng là phương giúp cho thế giới vật chất tiến đến người tận thiện vật tận mỹ, đạt đến một tinh thần chí linh, thiên đàng tại thế. Thánh Chúa Jêsus Chrits cho biết: “là thiêng liêng có quyền xử đoán mọi sự, và không bị ai xử đoán” là vậy. Khi hiểu ra Đức Hộ Pháp dục nghịch trong cái thuận và Đức Lý dục loạn trong sự hòa là phương giúp cho chúng ta đoạt đến một cảnh giới thiêng liêng (tùy cơ ứng biến…) để khi “ta đã lãnh vai làm chủ khảo thì buộc (9 chữ): Mắt của ta phải xét cho chánh (7 chữ); miệng ta phải nói cho chánh (6 chữ); thân ta phải làm cho chánh (6 chữ); trí ta phải giữ cho chánh (6 chữ); tâm ta phải định cho chánh (6 chữ). Thì mới đủ quyền hành cầm cân công bằng thưởng phạt thiêng liêng, hiệp tâm trí đặng qui nguyên phục nhứt” (21 chữ), và làm quan Trạng sư để bào chửa cho vạn linh đạt kiếp trong khuôn pháp thương yêu và quyền công chánh trị thế và giác thế cuối Hạ ngươn Tam chuyển (nhà Thương), đặng bước sang Thương ngươn Tứ chuyển (nhà Châu) lập một tân thế giới Cực Lạc hòa bình tự trị.
    1/- Ví như sử đạo Cao Đài có một án tiết oan tình của hai ông BẢY CHỮ, lạy Kim Quang Sứ trên 80 năm, trước khi Đức Hộ Pháp ra tay dục nghịch, Ngài cảnh báo như vầy:
    “Đạo khai thì tà khởi, có Phật thì có Ma, có Trời thì có quỷ, ma ma Phật Phật hai chốn riêng phần. Các chơn linh ở Hữu Tử Thiên trở xuống, nhứt là ở trong Đại Hải Chúng, đệ Nhứt nguy hiểm hơn hết là Kim Quang Sứ tự là  Quỷ Vương. Nếu chúng ta tu mà rủi lầm nghe Người thì làm đầy tớ cho người, Điều hiển nhiên trước mắt, khi Đạo mới khai mở, Thánh thể Đức Chí Tôn còn thương yêu hòa thuận với nhau, chưa đến nỗi chia rẽ thù nghịch lẫn nhau. Kim Quang sứ Đến cầm cơ viết ;
    “ Cửu Phẩm Thần Tiên nể mặt ta”
    Ông Giáo sư Thượng Chữ Thanh ở Kiêm Biên nói ; “Ông này chắc lớn lắm” liền bước ra quì lạy, kế ông Giáo sư Thượng Bảy Thanh nữa, cơ viết tiếp :
    “ THÍCH CA dầu trọng khó giao hòa”
    Đổi chơn thay giả tô Thiên vị
    Thắng bại phàm tâm liệu thế à!
    Tới chừng ký tên Kim Quang Sứ, mới biết là quỷ vương Tà Giáo. Hai người này đã theo Kim Quang Sứ, đó là bằng cớ điều hiển nhiên.
    Kim Quang Sứ đã thâu phục hai môn đệ trí thức trước mặt Bần Đạo ( Đức Hộ Pháp).
    Đàn cơ năm 1930 (Canh Ngọ) tại Thánh Thất Kiêm Biên,có Đức Hộ Pháp chứng đàn.
 Bài thi của Kim Quang Sứ:
“ Cửu Phẩm Thần Tiên nể mặt Ta,
Thích Ca dầu trọng khó giao hòa .
Cửa Kinh Bạch Ngọc hằng lui tới,
Đường Đạo Tây Phương thử Chánh Tà.
Chỉ Đá hóa Vàng đanh miệng Thế,
Treo gươm sông Vị chạnh phồn hoa.
Lấy Chơn thay giả tô Thiên Vị.
Thắng bại phàm tâm liệu thế à !
    ▪ Thử hỏi Kim quang sứ ở đâu mà dám bắt hai đồ đệ trước mặt Ngài? Lúc ấy có ai rờ đụng, chính mắt thấy Kim quang sứ đến với hình ảnh và tên tuổi không? Kể cả hai ông Bảy và ông Chữ cũng không hề trông thấy. Phải chăng cũng do từ Đức Hộ Pháp mượn cớ “cơ bút và chính Ngài bảo rằng Kim Quang Sứ đã thu phục hai đồ đệ trí thức của Ngài” từ buổi ban sơ khai đạo, Đức Ngài cố tình dục loạn cho anh em bạn đồng môn lấy cái “trí thức phàm” chỉ trích, chê bai, nghịch hẳn lẫn nhau, cũng bởi do nơi hai tinh thần đối lập trong nội thân của chúng ta mà ra cả. Đức Ngài báo trước trong người có Phật có ma, trong Đức Chí Tôn có Trời có quỷ đó chớ! Cuối cùng giữa hai tinh thần thiện ác, chánh tà là một mặt trận trí thức đấu tranh giữa hai trạng thái vừa tương xung rồi kết tụ; tương hiệp đặng biến hóa cùng phát triển vận hành trong quy luật phủ định của phủ định giúp cho con người làm chủ thể của xã hội ngày càng tiến hóa từng bước đến hoàn thiện hơn.
     Đã 80 năm rồi mà cái án dục nghịch của Đức Hộ Pháp đã gieo vào trong tâm trí đần độn tối tâm của chúng ta, quên hết những lời cảnh báo của Ngài trước đó! Anh em ta chưa lột trần hết cái giả cảnh BẢY CHỮ: nộ, ố, ai, dục, hỉ, lạc, ái. Phải chăng Đức Ngài đã thủ ngay chữ “dục” thứ tư, để cân thần cái trình độ tự xưng là trí thức thất tình đời thường của cả thảy chúng ta, bị Ngài hãm xuống tầng “Nộ” chót hết, sâu tận của sự mê tín dị đoan ngốc nghếch dễ làm công cụ vật chất cho thiên hạ làm trò tiêu khiển, đó là thủ thuật  Kim Quang Sứ dục nghịch trong nội thân của Ngài. Rồi cũng từ cái thiệt cảnh tầng cao nhứt của thất tình CHỮ thứ BẢY là tầng “Ái” buộc toàn thể nhơn loại phải thương yêu và giữ vẹn công bằng cho nhau, Ái là chơn linh của một vị Thánh, nói thì dễ đến khi ứng xử thì rớt hết. Thuận khảo của Thất tình từ thấp “nộ” lên tầng cao nhứt là “ái”; nhưng Đức Hộ Pháp muốn sở dụng phàm trần nghịch khảo từ tầng “dục”, lôi kéo cả “ái” cao nhứt xuống tận cùng là “nộ”. Đức Hộ Pháp đóng vai làm chánh chủ khảo: “kim Quang Sứ đã bắt hai đồ đệ trí thức của Ta!” Đức Hộ pháp chỉ nói như vậy cũng đủ làm cho anh em bạn đồng sanh nghịch hẳn, chê trách lẫn nhau, đã 88 năm có được mấy ai tự xuất hiện làm trạng sư để bào chửa cho bạn đồng sanh chưa? Cứ mãi ù lì, nhắm mắt xu nịnh để ông Thầy dẫn tới đâu thì hay tới đó thành ra không phải tin tưởng. Một trong rất nhiều đề thi nhơn nghĩa thì cái gương ân trọng như núi của hai ông Bảy Chữ đã giúp cho chúng ta áp dụng để đào luyện trí thức tinh thần, trở thành những nhà trạng sư hữu ích cho nhơn loại sau nầy vậy !
    “Kim Quang kiệu đỡ đến triều Ngọc Hư”, kim Quang Sứ là nội thân của Đức Chí Tôn, hay nói cho dễ hiểu Kim Quang sứ là chơn khí của Đức Hộ Pháp trấn giữ tại Cửu Trùng Đài. Thái Cực sanh Thái Bạch, cho nên Kim Quang là sự sáng biểu hiện cho Đức Lý Thái Bạch, nói thật và làm thật là bản chất của Ngài. Ngôi Thái cực là khối lửa là đấng chủ quyền Ngọc Hư Cung Hồng Quân Lão Tổ, Phật giáo chấn hưng khai đạo Cao Đài gọi là Hộ Pháp A DI ĐÀ Phật. Đến giai đoạn Chơn Đạo Đức Lý cầm thiên thơ cho Khổng giáo (CTĐ) vâng lịnh Ngọc Hư nay xuống thế, Tam Kỳ độ rỗi ức nguyên nhân; cũng là lúc Ngọc Hư Cung giao cho Cửu Trùng Đài cầm vận mạng nhơn sanh để tạo thời chuyển thế lập đời thánh đức.
    Chợt hiểu ra, Đức Hộ Pháp mượn hai ông đàn anh: Bảy Chữ, hay Chữ thứ Bảy trong thất tình là 7 khí chất tạo hình thể của chúng ta để khảo thí làm đề thi nghịch lại chúng ta. Thế thì chúng ta nên khen ngợi hai ông Bảy Chữ, hai ông lạy đó là lạy chơn khí Đức Lý Kim Quang nhân chứng của sự sáng, tức Sứ giả của Hộ Pháp Thiên Tôn tại Cửu Trùng Đài, trong nội thân của Đức Hộ Pháp vậy. Phải chăng, bấy lâu nay chẳng biết ai cười ai? Có lẽ hai ông đàn cựu Bảy Chữ đang mĩm cười cho đoàn hậu tấn, quả thật đáng thương ?
    2/- Đức Hộ Pháp thuật lại, chính Chí Tôn buộc phải mở Thể Pháp trước, vì Thể pháp là hữu hình hữu hoại miễn mặc Bí Pháp còn thì đạo còn. Sau khi mở đạo, Đức Hộ Pháp lại thách thức và dục nghịch các môn đồ Cao Đài đối đầu với các Tôn giáo khác như vầy: “Dù thể pháp của các Tôn giáo có cao siêu bao nhiêu đi nữa mà không có Bí Pháp để làm tướng diện căn bản, thì nền Tôn giáo ấy chỉ là Tả đạo Bàn môn mà thôi”.
    Nếu chúng ta không đạt ý của Đức Ngài, hãy thử đi đến các Tôn giáo bạn bảo rằng người ta không có Bí pháp là Tả đạo Bàn môn thì chắc chắn sẽ mang khổ vào thân ngay! Đạo có nguồn có gốc, đời có nguyên nhân và kết quả. Có nghĩa biết để bụng rồi tự chủ quyết đoán làm trước nói sau, mình biết người ta đừng để cho người ta biết mình… bằng tinh thần mà biểu hiện ra vật thể, hay bằng vật thể mà có kết quả về mặt tinh thần.
    - Vậy Thể pháp của Nhị kỳ hay Tam Kỳ cũng đồng một thể “sở dụng phàm trần” là tạo những cơ sở vật chất hữu hình và định pháp quyền thương yêu và công bằng cho một triều đại “Quân thần” trong kỷ nguyên hiện đại nầy để làm phương giác thế chúng sanh của một nước về mặt Thế đạo. Tức tạo cơ sở vật chất hạ tầng, lập triều nghi, ngôi vị dành sẵn, nhưng chưa cho phép ngồi, vì Cao Đài là một tôn giáo thế giới, không riêng của chúng ta.
    - Đặc biệt Cao Đài có Bí Pháp thuộc về Thiên đạo là phụng sự và của cả toàn nhơn loại không phân biệt các chủng tộc, tôn giáo, đảng phái nào. Muốn cho Bí pháp ra thiệt tướng phải “sở dụng thiêng liêng” tại điểm nhấn (Bí pháp) để xuất hiện “thiêng liêng các đấng lập triều trị dân”, khi đến một điểm nút chín mùi gọi là độ mới thực hiện bước nhảy  thay cũ đổi mới: giải thể Thanh Hương (nhà Thương) đặng chuyển sang Chơn pháp Đạo Tâm (nhà Châu). Chơn đạo thành Hội Long Hoa khai mạc, lúc đó mới có quyền ngự.
    Hội Thánh Thể pháp là đoàn Tiền khai Đại Đạo tịch đạo Thanh Hương, nặng về lập công, bằng mọi cách để “nâng tay nhục thể xây hình Chí tôn” tạo cơ quan hữu hình hạ tầng cơ sở vật chất:
    ▪ Đền Thánh là Bạch Ngọc Kinh tại thế, tức “Cung Đình hay triều vua” là trung tâm yếu trọng của Đạo Cao Đài không thể không có được ! còn những nơi khác chỉ là phụ thuộc mà thôi. Có câu kinh:
                “Trên Bạch Ngọc Chí Tôn cao ngự,
                Giữa Tây phương nắm giữ thiên điều.
                Dưới Ngọc Hư kể bao nhiêu,
                Thiêng liêng các đấng lập triều trị dân.”
    Hội Thánh Cửu Trùng Đài tại Đền Thánh Tây Ninh tạo dựng thời Tư Bản Chủ Nghĩa năm 1926, thuộc Triều đại Quân chủ dân quyền Nho tông chuyển thế tịch đạo Thanh Hương: quốc gia đệ nhứt quyền “quân thần”, hương đảng đệ nhị quyền “sư đệ”, gia đình đệ tam quyền “phụ tử”. Đệ nhứt quyền chuyển từ trên xuống: nhứt Phật (vua), còn quan văn (thánh thiện) quan võ (thánh ác), quần thần có: tam Tiên, tam thập lục Thánh, thất thập nhị Hiền, tam thiên Đồ Đệ.
    Sau khi Đạo lịnh giải thể: 01-1979 ban hành, thì Thể Pháp Hội Thánh CTĐ nhà Thương “chủ nghĩa Tư Bản” bắt đầu đi đến chỗ suy tàn, thoái bộ, biến chất sái loạn chơn truyền rõ rệt đúng với danh từ Hội Đồng Chưởng Quản, được chính phủ nhà nước CHXHCNVN nhìn nhận là một chi phái (bộ lạc). Quả thật triều đại nhà Thương Trụ Vương Đầu Sư Tám chỉ là một Bộ lạc, có nghĩa vì lạc đường mà sái loạn chơn truyền chánh pháp, tuy lạc đường nhưng cũng cố gắng kéo về phía mình một số những Bộ lạc nhỏ lại làm một gọi là Bộ Tộc (HĐCQ) mà thôi, chớ chưa đủ sức thu phục tâm lý 800 trấn chư hầu lớn nhỏ trên thế giới vào khuôn đại đạo để thống nhất dân tộc gọi là một tôn giáo lớn. Thì lẽ đương nhiên nhà Thương của triều đại Trụ Vương Đầu Sư Tám là chi phái (Bộ tộc) cuối cùng thứ 36 trong tất cả những chi phái đã có từ trước.
- Xác định tôn giáo cao đài Tây ninh là một chi phái (copy trên mạng)
Chúng tôi đã đi đến từng địa phương, thăm viếng đồng đạo các nơi còn bảo thủ chơn truyền chính thống của Đức Chí Tôn thì hầu hết không nhìn nhận HĐCQ tức Hội Thánh trá hình cụ thể qua bản “ Báo Cáo Nhanh” số 35 – BCN – SNV ngày 14 – 04 – 2009 của Phó Giám Đốc Sở Nội Vụ tỉnh Tây Ninh ông Trang Thanh Hải đã xác định:
“Hội Thánh chỉ khác với HĐCQ trước đây về tên gọi còn cung cách xử lý công việc hành chánh đạo vẫn giống như HĐCQ trước đây không có gì thay đổi”. Do vậy chính Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh hiện nay là HĐCQ do nhà nước nhìn nhận cấp pháp nhân là một Hội Thánh trá hình của HĐCQ để lừa dối và tránh tiếng với nhơn sanh nhẹ dạ cả tin.
Sở Nội Vụ tỉnh Tây Ninh đã xác định rõ ràng mà nhơn sanh vẫn còn lầm lũi nghe theo. Huynh đệ đã nhiều lần chỉ rõ ngọn nguồn mà nhơn sanh không chịu tầm để học hỏi. Vì vậy, sau này khi nền đạo được phục hồi, nhơn sanh ra trước Tòa Tam Giáo không còn viện dẫn lý do không hiểu không biết.
Nhơn sanh căn cứ vào bản “ Kế Hoạch 01” của Tỉnh Ủy tỉnh Tây Ninh ra ngày 27 – 5 – 1996. Trong phần nội dung triển khai về nguyên tắc chỉ đạo của Tỉnh Ủy phải qua 3 bước cụ thể, trong đó bước 2 nêu rõ:
- “ Xác định Tôn Giáo Cao Đài Tây Ninh là một chi phái./.
    ▪ Liệu Trụ Vương Đầu Sư Tám đủ đức hạnh lãnh đạo làm đàn anh 35 trấn chư hầu lớn (Bộ tộc là chi phái) và trên 500 trấn chư hầu nhỏ (Bộ lạc là Thánh thất) từ trong ra ngoài nước không? rõ ra ếch lột da ngồi đáy giếng vẽ trời cao. Trụ Vương Đầu sư Tám không tự lượng sức mình, cứ mãi khư khư ôm cái gốc cổ thụ vật chất đã mục nát thành cám, làm con mọt hèn tiện gậm nhấm cái thể xác vô hồn viết tử kia, rồi sẽ có một ngày  giông bão tới đỗ sụp ra tro, chỉ còn trơ trọi một tội đồ sa vào bẩy rập của cả Thập hình Đức Lý Nhứt Trấn Oai nghiêm, trừng trị kẻ đã tự sửa cải chơn truyền, trục ngoại thánh thể, diệt tàn cho khỏi hại.
- ĐỒ PHI -

(trích trong quyển HƯNG CHÂU PHẠT TRỤ)


Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả