THÁI SƯ VĂN TRỌNG THỜI NAY

● PTTD: Bản tố cáo tội lỗi Trụ Vương Đầu sư Tám của hội viên, Quan sát đạo sự Hội Đồng Chưởng Quản: Truyền trạng Trần Anh Dũng là một trong những đại diện của bộ tộc nhà Thương, xuất hiện được tinh thần trung can nghĩa khí của Thái sư Văn Trọng thời nay trong cửa Đạo Cao Đài, không sợ thế lực bạo quyền, cương quyết đưa ra 10 điều can gián, kết tội một ông vua hoang dâm, lỗi đạo quân thần, sái loạn chơn truyền chánh pháp, bạo hành, độc tôn.

Tin chắc rồi đây, sẽ xuất hiện rất nhiều tinh thần của những bậc anh hùng an bang tế thế dám thoát kiếp hy sinh mình, đặng cứu khổ cho nhân dân bá tánh qua cơn nước lửa, đó là đấng Thánh Chơn linh Võ Khúc Tinh Quân, có một kiếp giáng trần là Hớn Thọ Đình Hầu Quan Vân Trường, đời Tam Quốc phân tranh. Ngài hết dạ phò vua giúp nước, diệt tà tôn chánh. Ngài giữ trọn tam can, trung nghĩa, chánh trực, công bình.

Đại nghĩa của Ngài và trung can nghĩa khí của Ngài từ xưa đến giờ ít ai có được. Trọn đời Ngài, lấy bộ sách Xuân Thu làm tinh thần lập chí.

Chí tại Xuân Thu, công tại Hớn

Trung đồng nhựt nguyệt nghĩa đồng thiên

Sau khi mất, Chơn linh của Ngài được Sư Phổ Tịnh độ mà hiển Thánh. Khi hiển Thánh rồi, Ngài trừ tà diệt quỷ cứu độ sanh linh, không tái kiếp nữa mà chỉ dụng quyền Thiêng Liêng để hành Đạo.

Ngài lập được Phật vị nhờ Vạn Linh tôn Ngài lên, không phải Thiên phong. Ngày 24-6 là ngày Vía Đức Cái Thiên Cổ Phật Quan Thánh Đế Quân.

Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Thượng Đế mở Đạo là cơ quan hiệp với Vạn Linh, để Ngài làm Tam Trấn Oai Nghiêm, làm trạng sư cho Vạn Linh đạt kiếp và thay mặt Nho Giáo nắm luật Công bình diệt trừ những kẻ tà tâm.

Thờ Đức Quan Thánh là chúng ta thờ gương trung can nghĩa khí và công chánh của  Ngài.

Quan thành tái kiếp Hớn triều phong

Thánh đức mạc vong hám thế trần

Đế thất nhứt tâm trung khí dõng

Thanh y xích diện hảo vinh phong

Văn Thái Sư đang kéo binh đi, nhìn thấy trước mặt có một tấm bia khắc ba chữ là : Tuyệt Long lãnh thì dừng kỳ lân cả buổi , buồn bực làm thinh.
      Ðặng Trung thấy vậy hỏi :
- Chẳng hay Thái Sư có việc chi nghĩ vậy mà vẻ người bơ phờ ?
Văn Thái Sư nói :
- Thuở trước ta học đạo tại cung Bích Du, lúc chân tài đã năm mươi tuổi . Thầy ta là bà Kim Linh thánh mẫu sai xuống phò cơ nghiệp Thành Thang. Khi ra đi ta có hỏi một lời số mạng. Thày ta bảo là ta không nên gặp chữ Tuyệt . Nay kéo binh đến đây lại gặp chữ ấy, nên lòng ta chẳng vui.
     Ði được hai mươi dậm thì đến núi Tuyệt Long, đường sá gập ghềnh, non cao lổm chỗm. Nhìn lên sườn núi thấy Vân Trung Tử đang đứng nơi đó. Văn Thái Sư liền bước tới. Vân Trung Tử vỗ tay một cái, sấm sét nổi lên, dưới đất mọc lên tám cây trụ cao hơn ba trượng , bề trên một trượng chia làm ; Càn, Khảm, Cán, Chẩn, Tốn, Ly, Khôn, Ðoài .
Văn Thái Sư đứng chính giữa nói lớn :
- Phép độn ngũ hành ai ai cũng biết, có lạ lùng gì đâu mà dọa ta .
Nói rồi bắt ấn trị hỏa đứng một hồi lâu rồi kêu Vân Trung Tử nói :
- Phép ngươi dở ẹt như vậy, không lẽ ta đứng đợi hoài. Thôi ta giã biệt nhé !
Nói rồi nhảy lên một cái, định thoát ra khỏi các cây trụ đó.
Chẳng ngờ Vân Trung Tử đã chực sẵn, lấy cái bình bát của Nhiên Ðăng chụp xuống tám cây trụ. Như đậy nút chai.
Văn Thái Sư nhảy lên, đụng đầu té xuống.
Vân Trung Tử ở ngoài làm phép thêm lửa .
Khá thương Văn Thừa Tướng vì nước liều mình !
Văn Trọng là một tôi trung nghĩa nên lúc chết hồn bay về Lộc đài chầu vua Trụ.
Khi ấy vua Trụ đang uống rượu với Ðắc Kỷ, soàng soàng trong người , dựa ghế ngủ quên, bỗng thấy Văn Thái Sư đứng trước mặt nói :
- Tôi vâng lịnh chinh Tây ba năm trời cực khổ, nay đã bỏ mình tại núi Tuyệt Long. Xin bệ hạ tu nhơn tích đức, cầu hiền trị nước chớ mê tửu sắc mà bỏ triều đình. Nếu người can không nghe, trời giận không sợ, thì xã tắc không còn. Hãy sửa lỗi mình, họa may điềm lành trở lại. Tôi muốn tâu cho cặn kẽ, song sợ trễ giờ phạm luật khó vô đài Phong Thần. Tôi xin bái biệt.
Nói rồi bay về núi Kỳ Sơn. Thanh Phước thần cầm phướng Bá Linh dẫn vào đài an vị.
Thân Công Báo nghe tin Văn Trọng chầu trời bèn đi tới các động, dù nơi hang cùng ngõ hẻm, kêu người đến đánh Tử Nha.
ẢI TỊ THỦY HÀNG VINH THẤT THỦ
    Hàng Vinh là Tướng giữ Ải Tị Thủy, sai quan vận Lương là Dư Hóa ra trận, Dư Hóa dùng Đao Hóa Huyết đánh bại Na Tra và Lôi Chấn Tử. Dương Tiễn phải dùng phép biến hình Dư Hóa đến Bồng Lai Đảo mà xin thuốc của Dư Ngươn (thầy Dư Hóa) về chửa bịnh cho các Tướng. Ngày sau ra trận Dương Tiển cắt được đầu Dư Hóa.
    Dư Ngươn hay tin học trò đã chết, xuống núi đánh với Tử Nha, bị Cù Lưu Tôn quăng dây Khổn Tiên Thằng trói lại, đem ra chém không đứt, phải dùng đến gươm Lục Yểm mới chết (nguyên căn của Dư Ngươn là cái chảo vàng).
Hàng Vinh thấy Tử Nha cỡi con Tứ Bất Tướng oai phong lẫm liệt liền lướt tới hỏi:
- Cả thiên hạ đều là đất của nhà Thương nay vì cớ gì mà Nguyên soái cất binh phạt chúa? Tôi thật tình chê điều ấy.
Tử Nha nói:
- Tướng quân nghĩ sai rồi, hể vua chánh thì trị thiên hạ, vua bất minh thì phải nhường ngôi cho kẻ khác kế. Xưa kia nhà Hạ, vua Kiệt vô đạo nên bị Thành Thang chiếm cả giang sơn. Nay Trụ vương bạo ngược hơn vua Kiệt, nên ta phải phạt Trụ cứu dân, các chư hầu đều thuận theo trời đất đầu Châu phạt Trụ tướng quân không thấy hay sao?
    Hàng Thăng và Hàng Biến là con của Hàng Vinh dùng Vạn Nhẫn Xa (xe muôn gươm) là xe bằng giấy, trên có bùa và Ấn với bốn cây Phướng đề: Địa, Thủy, Hỏa, Phong. Xe ấy giết hại binh Châu rất nhiều, Võ Vương phải bỏ thành mà chạy, Hàng Thăng và Hàng Biến đuổi theo, may nhờ Trịnh Luân vận lương về vừa tới, dùng phép hớp hồn bắt Hàng Thăng và Hàng Biến đem về xử trảm, Hàng Vinh hay tin liền tự tử chết theo.
Ải Tị Thủy về tay nhà Châu.
● PTTD: Cha con họ Hàng muốn được hiển vinh, thi thố hết tài năng biến hình biến dạng; ẩn hiện khó lường. Thí mạng quy hàng Trụ vương vô đạo, cũng chỉ vì vài ba miếng giấy thể dụng phàm trần giả tướng, mượn danh nghĩa Bích Du thi hành Tân Luật và Pháp Chánh Truyền, trương cờ: Địa, Thủy, Hỏa, Phong “bốc banh chấm phái” vô hồn viết tử noi chước thiên cung lập đài quỷ vị, muôn gươm chờ chực sát hại trung thần.
    May nhờ Trịnh Luân dùng pháp luân thường chuyển được chơn truyền của Ngọc Hư cung Hạo Nhiên Pháp Thiên,  Thu hồn (Thăng-Biến) đem về xử trảm, cái mộng vinh hoa phú quý phải ra tro, không qua khỏi cửa ải vong quốc (Tị Thủy) đành bỏ mạng.

                                        ẢI TRẦN ĐƯỜNG
                                LÝ BẠCH XUẤT PHÁP THÂN
    Bây giờ tại ải Trần Ðường, quan Tổng Binh ải này là Lý Tịnh vốn học trò cửa ông Ðộ Ách ở núi Côn Lôn, khi còn nhỏ có đi tu, sau bị đuổi về ra phò vua Trụ. Vợ Lý Tịnh là Ân phu nhân sanh được hai con, hình dung tuấn tú. Con lớn tên Kim Tra , con nhỏ tên Mộc Tra. Ðến nay, Ân phu nhân lại mang thai nữa , nhưng lần nầy rất lạ, thai nghén đã ba năm rưỡi mà chưa khai hoa nở nhụy .
    Ðêm kia, Ân phu nhân đang nằm ngủ trong phòng thấy một vị đạo sĩ đầu chừa hai vá tay cầm gậy , râu dài đuộc bước đến.
Ân phu nhân nạt lớn :
- Thầy là ai ? Không biết phép , dám vào phòng riêng của ta ?
Ðạo sĩ nói :
- Phu nhân mau lãnh con quý.
Ân phu nhân chưa kịp trả lời , đã thấy Ðạo sĩ tay cầm vật gì không biết , ném ngay giữa bụng mình, làm cho phu nhân giật mình thức dậy mồ hôi ướt đầm mình.
● PTTD: Lý Bạch, chơn linh của Ngài là thời gian. Sao Thái Bạch vẫn mãi soi sáng xua tan bóng đêm đặng tạo đời cải dữ ra hiền.
    Ngài là Tam Trấn Oai Nghiêm là sự sáng của Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Ngài là anh cả của 92 ức nguyên nhân còn mai danh ẩn tích tại mặt thế gian nầy, chờ thọ lịnh Ngài quy hồi cựu vị. Lý Thái Bạch là pháp thân của Đức Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát chủ tông đường thứ ba nơi Ngọc Hư Cung; còn trên con đường thiêng liêng hằng sống tại thế thì Đức Lý Ngưng Vương trong pháp thân của Đức Quyền Giáo Tông, có nghĩa sở hành của Đức quyền giáo tông để minh chứng rằng chính Ngài xuất hiện.
Ánh  Thái Cực biến sanh Thái Bạch
Hiện Kim Tinh trọng trách Linh Tiêu
Quyền năng vưng thửa Thiên triều.
Càn Khôn Thế Giới dắt dìu tinh quân.
    Thái là thương yêu, Bạch là sự chơn thật, Thái Bạch có nghĩa vì thương mà phải nói thật. Thái Cực sanh Thái Bạch, Ngài là sự sáng từ Lửa, là nhân chứng sống của sự sáng thật, hay nói rõ Ngài làm nhân chứng cho Hộ pháp, chính Hộ pháp giáng trần cầm bí pháp mở đạo Cao Đài, cả kêu 92 ức nguyên nhân hãy tỉnh mộng lại.
"Tinh quân thọ sắc thuở Phong Thần.
Cho đến Đường triều mới biến thân
Thái Bạch Kim Tinh đang trị thế
Trường Canh trích tử đến thăm trần".
    Ngày nay, chúng ta tôn kính Ngài qua danh xưng trong một kiếp xuống trần tên là Lý Bạch, một thi sĩ nổi tiếng trong nền văn học Trung Quốc đời nhà Đường. Chúng ta mượn tên kiếp này của Ngài để tôn thờ một quyền năng thiêng liêng cao trọng với pháp hiệu “Lý Đại Tiên Trưởng Kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.”
    Lý Tịnh trấn Ải Trần Đường, làm cho chúng ta nhớ lại Bí pháp chơn truyền của Ngọc Hư Cung nói về sứ mạng của Đức Lý Thái Bạch: “vâng lịnh Ngọc Hư nay xuống thế Tam Kỳ độ rỗi ức nguyên nhân”. Vậy  theo ý thì “Lý” muốn nói đến “chơn truyền”; còn “Tịnh” là “bí pháp”. “Trấn” thuộc “chủ quyền tại thế”. Tóm lại, Ải Trần Đường là nơi Đức Lý vâng lịnh Hộ Pháp (Ngọc Hư) xuống thế tại Cung Hạo Nhiên Pháp Thiên, cầm thiên thơ cho Khổng giáo thực hiện đạo đời tương đắc vạn linh hiệp chí linh.
Trước kia, Đức Lý Bạch tài cao chí cả, đánh đuổi binh giặc chỉ  bằng ngôn ngữ, tinh thần, chẳng tốn lương thảo, tướng binh mà cả cơ nghiệp đặng hoà bình bảo toàn thiên hạ. Tánh khí của Ngài không thích công danh phú quý, thường vui thú cờ rượu, thi ngâm, hưởng cảnh thanh nhàn non Tiên động Thánh. Ngài phế quan từ chức, mộ đạo tu hành mới đắc quả một vị Đại Tiên.
 Nay, buổi hạ nguơn chấn hưng Tam Giáo Đức Thượng Đế chọn Ngài cầm quyền Nhứt Trấn Oai Nghiêm, thủ cơ truyền Đạo, lập luật Pháp, nghị định, chơn truyền công thưởng tội trừng, vô tư vô vị, chấp chưởng cơ quan tạo thời cải thế.
    Ngài đương kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, thay mặt cho Tiên giáo.
Lý Tịnh còn đang suy nghĩ thì phu nhân đã chuyển bụng, rên la rất dữ.
Lý Tịnh nghĩ thầm :
- Ðây chắc là một vi tướng đầu thai, nhưng chẳng biết tướng hiền hay tướng dữ đây .
Xảy thấy thế nữ vào thưa :
- Phu nhân đẻ ra một quái thai.
Lý Tịnh nghe nói thất kinh, xách gươm vào phòng, nghe mùi thơm ngào ngạt. Ðến bên giường phu nhân thì chỉ thấy một cái bọc lớn bằng cái bánh xe. Lý Tịnh cầm gươm chém rách cái bọc ấy tức thì bên trong một đứa bé nhảy ra, mình chiếu hào quang, mặt như dồi phấn, tay cầm Càn khôn quyện, lưng buộc Hỗn thiên lăng. ( ấy là Linh Châu Tử đầu thai, sau đi tiên phuông cho Khương Thượng, nên buộc mình dây đỏ, tay cầm vòng vàng. Hai vật ấy là bửu bối của Thái Ất chơn nhơn cho ) .
Lý Tịnh thấy thằng nhỏ chạy giáp vòng, biết không phải yêu quái liền bắt lại , bồng lên giường, đưa cho phu nhân.
Vợ chồng trầm trồ , cưng như trứng mỏng.
    Ở Động Kim Quang, ngày kia Thái Ất gọi Na Tra vào mà bảo rằng:
    - Con phải đến Ải Tị Thủy trước rồi ta theo sau đặng phá trận Tru Tiên.
    Nói xong, lấy ba trái táo và ba chung rượu bảo Na Tra hảy ăn và uống rồi xuống núi, ăn xong khoảnh khắc Na Tra biến thành ba đầu tám tay; Thái Ất truyền cho các bửu bối:
    - Một tay cầm Càn Khôn Quyện.
    - Hai tay cầm hai cây Giáo.
    - Một tay cầm Kim Chuyên.
    - Ba tay cầm Cửu Nôm Thần Hỏa và song kiếm Âm Dương.
Thấy học trò mình oai phong lẫm liệt Thái Ất ngâm rằng:
“Táo Hồng ba trái rượu ba chung,
Biến hóa xem qua rất lạ lùng.
Tám cánh đã thành tay diệu thuật,
Ba đầu mới rõ mặt anh hùng.
Thâu thâu biến biến tùy lòng muốn,
Sắc sắc không không tự ý dùng.
Chớ trách Tây Kỳ nhiều Tướng Dị,
Trời xanh ghét Trụ giết tôi trung”.
    Ngâm xong Thái Ất nhắc nhở Na Tra:
    - Nay ta cho ngươi ba đầu tám tay mà đấu phép giúp người, phòng vào lấy Ngũ Quan cho thiên hạ biết Tây Kỳ rất hùng mạnh. Nói rồi truyền thần chú cho Na Tra.
    ● PTTD: Ban sơ Phật Mẫu đến ngự Hiệp Thiên Đài làm mẹ chữ Khí, chữ Khí tương quan trong Hiệp Thiên Đài, Phật Mẫu đến tạo cái tòa ngự của người rồi sau mới lập Cửu Trùng đài. Vậy tòa ngự của Phật Mẫu là Phạm Công Tắc. Theo ngũ hành tương xung tương hiệp thì Mộc đại diện cho cha, Kim biểu hiện cho mẹ, cho nên Đức Hộ Pháp là chơn linh Phật Mẫu thuộc KIM, giáng trần cầm bí pháp nắm chủ về pháp khai mở đạo Cao Đài.
    Do vậy, tại cung Đạo Đền Thánh, đêm 18-3 Ất Mão (1975) qua đàn cơ Đức Hiến pháp phò loan cùng với Ngài Khai Đạo, bà mẹ sanh Tạo Hóa Huyền Thiên Đức Hộ pháp về cơ nhìn nhận: Đức Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa được chơn truyền cầm quyền chưởng quản Hiệp Thiên đài. Từ đó về sau, hành tàng của Ngài Bảo Đạo là thay Phật Mẫu chủ về pháp tại Hiệp Thiên đài, ký đạo lịnh giải thể 01-1979 chuyển sang Bí pháp vừa ban sự sáng cho toàn thể môn đồ biết rõ thời kỳ lập công đã chuyển sang lập đức. Sự sáng từ nơi Ngài Bảo Đạo lúc ấy đủ minh chứng rằng cái ranh giới của “Ải Kim Quang” có từ nơi Ngài.
    Sau khi Đạo Lịnh 01-1979 ban hành, Đức Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên đài, lo lắng chư môn đệ không hiểu được thánh ý của Thiên điều Ngọc Hư Cung đã bát bỏ những luật lệ có từ trước gọi chung là cổ luật. Các Đấng mượn những luật lệ ấy để thi hành Thể Pháp trong giai đoạn Tịch Đạo Thanh Hương nhằm tạo cơ hữu hình triều đình cho ra tướng, lấy giả tạo chơn là vậy. Đức Giáo Chủ Hộ Pháp đã cho biết trước để yên tâm, khi đến ngày giờ giải thể đứng trước ngã ba đường chư môn đệ định được cơ chuyển thế của Đạo: “Thể Pháp hữu hình hữu hoại, miễn mặc Bí Pháp còn thì Đạo còn”.
    Ngoài bác ái và công bằng ra, tất cả chỉ là phương pháp lấy giả tạo chơn mà thôi. Đạo lịnh 01 là Bí pháp thay cũ đổi mới của Hiệp Thiên Đài, cảnh báo cho toàn thể nhơn sanh biết đã đến hồi giải thể cả Hội Thánh Thể pháp Tịch Đạo Thanh Hương (nhà Thương) đặng chuyển sang Hội Thánh Tịch Đạo: Đạo Tâm (nhà Châu) làm cơ quan cứu thế cả toàn cầu thi hành NHƠN NGHĨA tiến đến đại đồng.

    “Đạo Cao Đài không cần dùng mê tín dị đoan là cho sự tín ngưỡng đặng mạnh mẽ của nó. Chúng ta không cần trái ngược lụng lại, đem hết triết lý chơn thật để tại thế nầy mà thôi. Bởi vì dối trá dầu cho Đạo hay Đời, trường dối trá ấy đã làm cho cơ thể Tạo Đoan nghiêng ngửa. Chúng ta không cần xu hướng, theo cái dối trá thường tình nữa, chúng ta phải tiêu diệt cái dối trá ấy. Lại nữa trong hoàn cảnh chúng ta đương làm trung gian giữa Đạo và Đời, chúng ta chẳng nên mượn thế lực mê tín dị đoan để làm khiếp phục đặng quyết thắng tà quyền đương làm tinh thần loài người điên đảo, một trường ngôn luận xù xì đã kiếm thế hèn tiện của thiên hạ đang tính tạo thành một phản động lực đặng làm mất giá trị của nền chơn giáo Đức Chí Tôn. Bần Đạo nói thật, muốn đánh tiêu cả sự dối trá, gian ngược ấy, chẳng phải dễ, người có thể làm cho thiên hạ mê tín dị đoan được là Bần Đạo, mà Bần Đạo không làm. Bởi vì Bần Đạo coi sự làm ấy hèn tiện và vô đạo đức, Bần Đạo chỉ lấy một triết lý chơn thật của Đức Chí Tôn để giáo đạo cho con cái của Ngài mà thôi.
    Bần Đạo duy muốn làm bạn với con cái Ngài, nên phẩm vị Phật sống của Đức Chí Tôn để cho Bần Đạo, mà Bần Đạo chưa có ngồi. Ấy vậy mê tín dị đoan trong cửa Đạo Cao Đài không có và không cần có, quả quyết hẳn vậy, nên đình lại bí pháp chơn truyền, nếu thuyết ra là lấy cái quyền năng mê tín dị đoan mà thắng thiên hạ là một điều hèn nhát nên Bần Đạo không dùng, để khi nào dùng được Bần Đạo sẽ dùng. Bần Đạo hứa chắc sẽ giáo hóa cho con cái Đức Chí Tôn mà thôi”.

- Đồ Phi - (trích trong quyển HƯNG CHÂU PHẠT TRỤ)

Tây Ninh, gửi ngày 11-6-2013




Trang Chính
Văn | Thơ | Nhạc | Tác Giả